Sách nói Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh -
Hãy trả lời em tại sao - Tập 07

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 09h:42' 17-11-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 09h:42' 17-11-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Hãy trả lời em tại sao?. T.7 / Nguyễn Kim Lân d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
196tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Nguyễn Kim Lân d.
001 -- dc 22
H412
Nguyễn Kim Lân dịch
hãy trả lời em tại sao?
tập 7
trÌNH BẢO XƯỚC - trƯƠNG TRọNG ĐỨc
Nguyễn Kim Lân dịch
Chịu trách nhiệm xuất bản:
ts. quách thu nguyệt
Biên tập:
trí vũ - thu nhi
Xử lý bìa:
bùi nam
Sửa bản in:
quốc khánh - thu nhi
Kĩ thuật vi tính:
vũ phượng
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161B Lý Chính Thắng - Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT: 39316289 - 39316211 - 38465595 - 38465596 - 39350973
Fax: 84.8.38437450 - E-mail: nxbtre@ hcm.vnn.vn
Website: http://www.nxbtre.com.vn
Chi nhánh nhà xuất bản trẻ tại Hà Nội
20 ngõ 91, Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa - Hà Nội
ĐT & Fax: (04) 37734544
E-mail: vanphongnxbtre@ hn.vnn.vn
4
Chương 1
THẾ GIỚI CÔN TRÙNG KỲ DIỆU
Trên thế giới này, không một sinh vật nào lạ lùng
như côn trùng. Trên trời, ở mặt đất, dưới sông biển,
trong lòng đất, trong khe đá; từ hai cực đến xích đạo,
từ Đông sang Tây, từ sa mạc mênh mông đến rừng
sâu rậm rạp... không có nơi nào là vắng mặt chúng,
chỗ nào cũng thấy bóng dáng chúng, chỗ nào cũng
thấy chúng hoạt động. Bất kể xuân, hạ, thu, đông, bất
kể ngày đêm, bất kể mưa nắng, chúng luôn luôn có
mặt bên bạn. Trong số bọn chúng, có một số làm bạn
thích thú, yêu quí; có một số làm bạn chán ghét đến
căm thù; có loài làm bạn thích không rời tay; có loài
làm bạn phải nhượng bộ, lùi bước...
1
Gia tộc côn trùng lớn
như thế nào?
Côn trùng là gia tộc lớn nhất trong giới sinh vật hiện
nay, côn trùng tối thiểu có tới 750 ngàn loại, chiếm tới
4/5 tất cả các loài sinh vật.
5
Côn trùng thuộc ngành chân khớp (động vật chân
có khớp, có đốt), chúng không những có thân mình
chia khúc mà còn có các chân chia đốt. Cùng ngành
chúng có lớp giáp xác (lớp vỏ cứng), lớp nhện và lớp
đa túc. Phân biệt lớp côn trùng ở đặc trưng chủ yếu
của chúng: mình chia ra ba phần gồm: phần đầu, phần
ngực và phần bụng, phần ngực có đôi cánh và ba đôi
chân. Dưới lớp côn trùng thường chia nhỏ thành 34 bộ,
dưới bộ có họ, giống cho đến loài.
Động vật khác
Bộ cánh vỏ
Các bộ khác
Bộ cánh đôi
y
vả
Bộ cá
nh m
àng
có
Bộ cánh cùng
nh
cá
Bộ cánh một nửa
Bộ
Bộ cánh thẳng
Tỉ lệ lớp côn trùng chiếm trong tất cả giới động vật
Đặc trưng thân mình thông thường của côn trùng theo
trình độ tiến hóa có thể chia lớp côn trùng như sau:
6
I. PHÂN LỚP KHÔNG CÁNH: mình nhỏ, không cánh,
biến thái không rõ rệt.
1. Bộ nguyên vĩ (bộ đuôi nguyên): mình nhỏ, không
có mắt kép, không có râu xúc giác, không cánh,
sáu chân, thức ăn chính là vật hữu cơ phong phú
ở trong đất, bộ này khoảng 300 loài.
2. Bộ đàn vĩ (bộ đuôi bật): nhỏ bé, có mắt kép đơn
giản, có râu xúc giác, không cánh, sáu chân, có bộ
đàn (bộ búng, bật) đặc biệt, khoảng 2000 loài.
3. Bộ song vĩ (bộ đuôi đôi): không có mắt kép, có râu
xúc giác, không cánh, sáu chân, đuôi phát triển mạnh
thành dạng kìm, khoảng 600 loài.
Râu xúc giác
Chân trước
Mắt đơn
Mắt kép
Ngực trước
Cánh trước
Ngực giữa
Ngực sau
Cánh sau
Chân giữa
Chân sau
Đuôi
Đặc trưng thân mình thông thường của côn trùng
(1. Phần đầu; 2. Phần ngực; 3. Phần bụng)
7
4. Bộ anh vĩ (bộ đuôi dây tua trang sức): mình nhỏ,
không cánh, có râu xúc giác dạng tơ dài, phần bụng
có hai sợi râu đuôi (vĩ tu) và một sợi tơ đuôi giữa
(trung vĩ tu), khoảng 500 loài.
Những bộ côn trùng này cả đời không có cánh, biến
thái không rõ rệt, rất gần loại tổ tiên động vật không
xương sống nguyên thủy; ít có quan hệ đến nhân loại,
nhưng có giá trị đặc biệt khi nghiên cứu sự tiến hóa
của côn trùng.
II. PHÂN LỚP CÓ CÁNH: loài côn trùng tương đối cao
đẳng, có cánh, biến thái rõ rệt.
Các bộ của mạng côn trùng
8
5. Bộ phù du: côn trùng trưởng thành (thành trùng)
mình mềm, tuổi thọ ngắn, miệng thoái hóa, cánh
chất màng, gân cánh dạng lưới, cánh trước to hơn
cánh sau nhiều. Ấu trùng sinh ở dưới nước, khoảng
2000 loài.
6. Bộ chuồn chuồn: mình to, mắt to, râu xúc giác nhỏ,
miệng kiểu nhai, cánh chất màng, gân cánh dạng
mạng lưới, bán biến thái. Ấu trùng sinh ở nước,
khoảng 5000 loài.
7. Bộ gián: hình dáng loại trung, râu xúc giác dạng tơ
dài và nhiều đoạn, cánh trước dạng giấy dai, cánh
sau chất màng, miệng kiểu nhai, chân thích hợp cho
đi nhanh, ấu trùng và thành trùng (côn trùng trưởng
thành) tương tự, khoảng 7000 loài.
8. Bộ ngựa trời: loại côn trùng lớn và săn bắt mồi,
ngực trước kéo dài, chân trước thành chân bắt mồi,
cánh trước chất da, cánh sau chất màng, ấu trùng
và thành trùng tương tự, khoảng 1800 loài.(*)
Những bộ côn trùng này nằm trong loại có cánh, là loại
nguyên thủy đẳng cấp tương đối thấp.
9. Bộ trực cánh (bộ cánh thẳng): hình dáng loại trung,
cánh trước chất da, cánh sau chất màng, miệng
kiểu nhai, đồ ăn là thực vật, là loài có hại. Biến thái
không hoàn toàn, khoảng 20.000 loài.
*. Có nơi gọi con bọ ngựa là con ngựa trời.
9
10. Bộ cánh da: cánh trước nhỏ, cánh sau to, chất
màng, miệng kiểu nhai, phía sau thân (mình) có
một cặp đuôi dạng kim, khoảng 1200 loài.
11. Bộ đẳng cánh (bộ cánh bằng): thân mềm, miệng
kiểu nhai, xúc giác dạng tràng hạt, mắt thoái hóa,
khoảng 2000 loài.
12. Bộ bán cánh (bộ cánh một nửa): cánh trước
thường là cánh bán vỏ, cánh sau chất màng, miệng
kiểu chọc hút, ấu trùng và thành trùng tương tự,
khoảng 30.000 loài.
13. Bộ cánh cứng (bộ cánh như nhau): miệng kiểu
chọc hút, cánh đều là chất da hoặc chất màng, rất
nhiều loài là sâu bọ chính làm hại nông nghiệp,
khoảng 32.000 loài.
Những bộ côn trùng này tuy có cánh nhưng thuộc về
biến thái không hoàn toàn.
14. Bộ cánh gân: cánh chất màng, gân cánh dạng
mạng lưới, miệng kiểu nhai, râu xúc giác dài, mắt
kép lồi ra, loại bắt mồi, khoảng 4.500 loài.
15. Bộ cánh vỏ: cánh trước chất sừng, không có
gân, cánh sau chất màng, miệng kiểu nhai, khoảng
300.000 loài, là bộ lớn nhất trong lớp côn trùng.
16. Bộ cánh lông: thành trùng dạng bướm, nhiều
lông, râu xúc giác dạng tơ phát triển mạnh, mắt
kép lồi ra, miệng kiểu thoái hóa, khoảng 4.000 loài.
10
17. Bộ cánh vẩy: cánh chất màng và có vẩy, miệng
kiểu xi-phông. Chia ra hai loại: bướm và ngài, khoảng
140.000 loài, là bộ lớn thứ hai trong lớp côn trùng.
18. Bộ cánh đôi: cánh trước phát triển nhanh, chất
màng, cánh sau chỉ là phần cân bằng, gân cánh
đơn giản, miệng kiểu chọc hút, khoảng 90.000 loài,
phần lớn là côn trùng có hại.
19. Bộ cánh màng: cánh chất màng, gân cánh tương
đối ít, miệng kiểu nhai hoặc nhai hút, phần lớn là
côn trùng có tính xã hội (sống theo đàn), khoảng
86.000 loài.
20. Bộ bọ chét (cánh ống): mình nhỏ, bẹt dọc, cánh
thoái hóa, miệng thích hợp cho kiểu chọc hút, chân
sau giỏi nhảy, sống ký sinh, là côn trùng có hại,
khoảng 1.200 loài.
Các bộ côn trùng này có nhiều chủng loại, biến thái
hoàn toàn.
2
Kết cấu hình dáng của
côn trùng ra sao?
Thân mình côn trùng tương đối nhỏ nhưng bên trong
cái nhỏ đó lại là sự biến đổi rất lớn. Thân mình côn
trùng dạng khúc dài nhất tới 30cm, loại ong ký sinh
nhỏ nhất chỉ là 0,2mm, lớn nhất và nhỏ nhất chênh
nhau 1500 lần. Thân mình côn trùng tựa như động vật
11
có khúc vậy, có vỏ ngoài rất rắn gọi là mai. Da ngoài
cứng là lớp bảo hộ và giữ cho thân mềm mại ở bên
trong, phần lõm vào là điểm dính cho các bắp thịt,
toàn bộ cơ bắp trực tiếp liền với vỏ cứng ngoài (mai),
có lợi cho sự chuyển động. Càng quan trọng hơn là:
mặt ngoài da phủ chất nến, chất dầu để ngăn ngừa
nước tiêu tán đi, đây là việc hệ trọng hàng đầu đối với
động vật nhỏ bé sống trên đất liền. Mặt ngoài da có
kết cấu dạng lông lại là bộ phận cảm giác nhiều mặt
của côn trùng. Nhưng nếu mai là cả một miếng thì rất
phiền phức, may là có nhiều màng nối hàng loạt vẩy
lại với nhau làm cho côn trùng có được tính nhanh
nhạy nhất định.
Ngoài ra, côn trùng còn mang dấu ấn của tổ tiên
dạng nhu trùng (động vật không xương, không chân)
nhiều khúc, toàn thân có tới 20 khúc nối lại với nhau
thành ba đoạn rõ ràng: phần đầu, phần ngực và phần
bụng. Phần đầu có 6 khúc, phần ngực có 3 khúc và
phần bụng có 11 khúc. Phần đầu mọc một đôi râu
xúc giác, mắt đơn mắt kép và miệng, thành một trung
tâm cảm giác và bắt mồi của côn trùng. Phần ngực
mọc ba đôi chân phân đốt, thường có hai đôi cánh, là
trung tâm vận động của côn trùng. Phần bụng có tâm
tạng, đường tiêu hóa, đường hô hấp và tuyến sinh đẻ,
là trung tâm trao đổi dinh dưỡng và sinh đẻ của côn
trùng. Kết cấu thân mình tinh xảo và hợp lý đó không
có ở các loài động vật trước, nó cũng đặt một nền móng
12
cho kết cấu thân mình của động vật cấp cao hơn, đó
là kết quả chọn lọc tự nhiên qua một thời gian dài.
Chúng ta hãy phân tích cụ thể một chút mấy loại
kết cấu bộ máy dưới đây:
1. Râu xúc giác muôn hình muôn vẻ: râu xúc giác
có ba bộ phận hợp thành: khúc cán, khúc cuống, khúc
roi. Khúc roi thường là nhiều khúc hợp thành, biến đổi
nhiều, lại có thể chia ra mấy kiểu loại. Côn trùng cùng
loại thường có râu xúc giác như nhau, nhưng một số
râu xúc giác riêng của côn trùng cái và côn trùng đực
không giống nhau. Thí dụ: muỗi cái có râu xúc giác
dạng tơ, muỗi đực lại có dạng lông vũ. Trên râu xúc
giác có rất nhiều bộ máy cảm giác làm cho côn trùng
có các chức năng sinh lý như: xúc giác, vị giác và khứu
giác nhanh nhạy.
Dạng
lông vũ
Dạng tơ
Dạng
trùng
hạt
Dạng Dạng
gậy
mang cá
Dạng đầu
gối cong
Khúc roi
Khúc
cuống
Khúc
cán
Các loại râu xúc giác của côn trùng
13
2. Mắt đơn và mắt kép: ngoài mắt đơn có tác dụng
cảm quan ra, nét đặc biệt của côn trùng là có cặp mắt
kép ở hai bên phần đầu do hàng chục đến hàng vạn
mắt nhỏ gộp lại mà thành (mắt kép của bướm gió do
17.000 mắt nhỏ gộp lại). Mắt đơn và mắt kép phối hợp
lại sẽ giúp côn trùng nhìn thấy rõ hơn. Có một số côn
trùng có mắt kép to và lồi ra, phạm vi nhìn tới 360 độ.
3. Miệng có nhiều kiểu loại: miệng là do chi phụ của
phần đầu phát triển mà có. Thường là do mấy phần
sau đây gộp lại: hàm trên, hàm dưới, môi dưới và môi
trên đơn nhất, lưỡi. Côn trùng có nhiều kiểu loại miệng
để phù hợp với các loại đồ ăn.
Loại nguyên thủy là miệng kiểu nhai của con châu
chấu thuộc bộ cánh thẳng, thích hợp cho việc nhai đồ
ăn là thực vật.
Miệng của con ong mật để ăn phấn hoa và hút mật
hoa thuộc kiểu nhai hút.
Miệng của ruồi nhặng để liếm hút và chọc hút, hút
các chất nước.
Thay đổi nhiều nhất là miệng kiểu xi-phông của loài
bướm, có thể hút mật của các loài hoa ở chỗ sâu nhất.
Miệng đa dạng hóa sẽ mở rộng phạm vi côn trùng
lấy (bắt) đồ ăn (mồi), cách lấy (bắt) đồ ăn (mồi) cũng
phong phú hơn, có lợi cho sự tồn tại của côn trùng.
4. Chân vạn năng: ở giai đoạn ấu trùng, côn trùng
thường có chân bụng. Sau khi trưởng thành thường không
14
còn chân bụng, chỉ có ba cặp chân ngực. Thường là
do mấy phần sau đây hợp thành: khúc cơ bản, khúc
xoay, khúc đùi, khúc bắp, khúc cổ chân, trừ khúc cổ
chân ra, nói chung đều là một khúc, khúc cổ chân
thường có từ 2-5 khúc, đoạn cuối có móng và các cấu
tạo phụ thuộc. Kết cấu của chân rất linh hoạt, thích
ứng với hoàn cảnh nơi trú chân và phương thức hoạt
động nên chân của các loài côn trùng có nhiều hình
thái khác nhau để thực hiện các chức năng khác nhau.
Chân đi thích hợp cho việc đi lại, chân bắt thích hợp
cho việc bắt mồi kiếm đồ ăn, chân nhảy phù hợp với
việc nhảy, chân bơi dùng để bơi trong nước, chân đào
bới để đào bới đất... nhờ vào đó mà côn trùng có thể
có nhiều hoạt động đa dạng, phức tạp.
Chân nhảy
Chân bơi
Chân mang
phấn hoa
Chân bám leo
Chân bắt
Chân đi
Chân đào bới
Chân bám
Các loại chân của côn trùng
15
5. Đôi cánh quí giá: côn trùng là loài động vật không
có xương sống duy nhất có thể bay trong không trung,
trở thành sinh vật sớm nhất có thể sống trong không
trung trong toàn thể động vật, mấu chốt là nhờ xuất
hiện cánh. Do kết cấu và chất liệu của cánh khác nhau
trong các loài côn trùng nên có thể chia ra:
- Cánh màng dạng màng mỏng trong suốt.
- Cánh vỏ có gân chắc khó nhận ra.
- Cánh một nửa, phần gốc dầy chắc, phần đầu chất
màng.
- Cánh có vẩy thì chất màng có nhiều vẩy và lông
nhỏ.
- Cánh đôi: cánh sau đặc biệt trở thành cánh cân
bằng...
Bán cánh vỏ
Cánh vỏ
Cánh sau thành
cánh cân bằng
Cánh vẩy
Cánh kép và
cánh màng
Các loại cánh của côn trùng
16
Còn có loại côn trùng thiếu cánh hoặc cánh thoái
hóa. Cánh côn trùng có nhiều gân, các loại côn trùng
khác nhau thì sắp xếp gân cũng khác nhau. Cánh khác
nhau thì cách bay và tác dụng bay đều khác nhau.
Cánh sinh ra và tồn tại làm cho hệ thống thần kinh và
cơ bắp cũng có những thay đổi lớn, do có cánh nên
hoạt động của côn trùng càng phức tạp, càng thích ứng
với nhiều hoàn cảnh, mở rộng nhiều con đường sống,
đặt nền móng cho côn trùng phát triển thịnh vượng.
3
Bản lĩnh và năng lực thích ứng của
côn trùng như thế nào?
Do kết cấu hình thái của côn trùng đặc sắc, muôn
màu, muôn vẻ nên chúng có được bản lĩnh cao siêu
và năng lực thích ứng khéo léo.
- Côn trùng có thể lực làm con người phải kinh ngạc.
Cơ bắp của côn trùng đều là thớ ngang và có rất nhiều
thớ, có loài đến hơn 4.000 thớ (người chỉ có 400-500
thớ); khi cơ bắp co lại còn có thể cung cấp năng lượng
khiến côn trùng có thể tạo ra được một thể lực không
tương xứng với tỉ lệ thân thể. Thí dụ: một con kiến thông
thường có thể nâng một vật nặng gấp mười lần trọng
lượng bản thân, con bọ chét có sức bật nhảy cao hơn
100 lần chiều cao bản thân. Sức mạnh kinh người ấy
làm cho côn trùng trở thành một kẻ mạnh.
- Cảm giác nhanh nhạy: con bướm đực cách xa hơn
17
2km có thể ngửi thấy mùi của con bướm cái tỏa ra,
bộ vị giác ở khớp cổ chân con bướm vàng mình có
gai có thể nhận ra được đường mía khi nồng độ chỉ
là 1/12.300g phân tử, độ nhạy nào cao hơn 200 lần
vị giác của đầu lưỡi con người. Mắt kép của rất nhiều
loại côn trùng có thể thu nhận tín hiệu sóng ánh sáng
của ánh sáng lệch tia tử ngoại. Cảm giác nhanh nhạy
làm cho côn trùng nhanh chóng có phản ứng với kích
thích ngoại giới.
- Dễ ăn: căn cứ tính chất khác nhau của đồ ăn, có
rất nhiều loại đồ ăn cho côn trùng, bao gồm: thực vật,
động vật và các động vật bị rửa nát, thậm chí đến cả
phân và xác chết chúng cũng ăn, khiến chúng tận dụng
hết các nguồn đồ ăn để sinh tồn...
- Bản lĩnh bay cao siêu: côn trùng có hệ thống khí
quản phát triển và bộ máy hô hấp đa biến nên thở hút
dễ dàng ở mọi nơi. Không những cung cấp thừa oxy
mà còn giảm nhẹ được trọng lượng bản thân, tăng được
sức nâng. Khi bay, đôi cánh khỏe mạnh, nhanh nhạy
dùng động tác vỗ cánh và nghiêng lệch về phía trước,
về phía sau, kể cả vặn mình, tạo thành lực đẩy và áp
lực khí ở phía trên và dưới cánh khác nhau khiến cho
mình tiến về phía trước linh hoạt. Có loài cánh vỗ đập
rất nhanh: cánh con mối, nhặng mỗi giây vỗ cánh tới
180-197 lần. Tốc độ bay của chuồn chuồn tới 140
km/h. Có loài côn trùng có thể nhờ vào góc nghiêng
của cánh khi giương cánh ra hoặc trái hoặc phải để
18
điều chỉnh dao động của cánh trước và cánh sau, điều
chỉnh tốc độ để bay ngược lại hoặc bay lùi, thậm chí
có lúc còn tạm dừng trên không trung... những động
tác đó làm cho côn trùng bắt mồi, trốn chạy kẻ thù,
tìm kiếm đực cái và di chuyển như ý muốn.
- Năng lực thích ứng tài tình: hình dáng của côn
trùng đa biến, làm cho chúng không những có màu bảo
hộ (như châu chấu trong bụi cỏ), màu cảnh giới (như
phần bụng ong vàng có các vằn ngang đen vàng xen
kẽ) mà còn có màu sắc giống màu sắc chung quanh
(như con bọ tre, con bướm lá cây). Không ít loài côn
trùng còn có các bản năng như giả chết, xả khí độc.
- Sức sinh sôi mau chóng: côn trùng là loại sinh đẻ
rất nhanh. Muỗi vằn cái Ai Cập bình quân đẻ 1360
trứng. Chu kỳ sống ngắn, chỉ vài ba ngày hoặc vài
tuần, một số côn trùng một năm sinh ra hơn mười đời
hoặc mấy chục đời. Sâu bông
theo thời tiết thay đổi mà dùng
nhiều phương thức sinh sản để
sinh đẻ, loại sâu bông con nở
ra 5 ngày đã trưởng thành, bắt
đầu một thế hệ mới sâu bông
con. Về việc sinh đẻ, côn trùng
có nhiều phương cách, chúng
biết đẻ trứng lên đồ ăn và ký
chủ để đảm bảo nguồn đồ ăn
Màu sắc giống màu sắc
lá cây của bướm lá cây
cho ấu trùng.
19
- Biến thái phức tạp và lịch sử cuộc sống: một đời
côn trùng từ trứng, ấu trùng đến thành trùng phải qua
hàng loạt biến hóa, đó là biến thái. Côn trùng nguyên
thủy loại đẳng cấp thấp không có biến thái rõ rệt, loài
côn trùng tương đối cao cấp từ biến thái không hoàn
toàn (thiếu thời kỳ nhộng) đến biến thái hoàn toàn, hình
thức cũng muôn màu muôn vẻ. Ý nghĩa thích ứng của
biến thái ở chỗ mở rộng hoàn cảnh trú ngụ và nguồn
gốc đồ ăn, làm cho nó có năng lực sinh tồn mạnh. Đối
với côn trùng, thích ứng với hoàn cảnh đa biến có ý
nghĩa quan trọng.
4
Côn trùng đi đâu khi
mùa đông đến?
Về mùa đông, chúng ta thấy rất ít côn trùng, vậy
chúng đi đâu?
Mùa đông vốn là mùa đào thải tuyệt đại bộ phận
cá thể côn trùng, dùng những phương thức khác nhau,
dùng cách “ngủ đông” để tự bảo hộ mình.
Trước khi ngủ đông, côn trùng thường ăn một khối
lượng lớn đồ ăn để trong mình trữ được tinh bột,
protein và mỡ để dùng khi qua đông. Đồng thời giảm
bớt phần nước trong cơ thể, tăng cao điểm đóng băng.
Ngoài ra, chúng còn chọn nơi trú đông là nơi ẩn náu
ấm áp. Côn trùng có mấy cách qua đông khác nhau:
- Qua đông ở dạng ấu trùng: như sâu bông chui
20
xuống đất 10cm; sâu róm thông ở trong đất gần cây;
con gián trốn ở góc nhà; sâu keo chui vào trong ruột
quả...
- Qua đông ở dạng nhộng: như nhộng của bướm,
ngài... ở trên cành cây, nhộng hướng về mặt trời để
qua đông.
- Qua đông ở dạng thành trùng như dế trốn trong
các hòn đất ở góc nhà: nhặng trốn trong góc nhà; bọ
rùa cuộn tròn trong lá rụng hoặc trong khe cây.
- Qua đông ở dạng trứng: châu chấu vùi trứng trong
đống đất hướng về mặt trời; ngựa trời dính bao trứng
trên cành cây; bướm lấy lông phủ đậy trứng; ong mắt
đỏ đẻ trứng gửi trên mình ấu trùng ký chủ.
Mùa đông qua đi, dựa vào các tín hiệu như: lượng
nước, đồ ăn, ánh nắng mặt trời, độ ẩm...côn trùng thức
tỉnh lại và bắt đầu cuộc sống mới.
Côn trùng trú đông
21
5
Tại sao người ta gọi con gián là một
hóa thạch sống?
Hơn 300 triệu năm trước đã có gián. Hình thái của
gián hóa thạch và hình thái của gián ngày nay gần
tương tự như nhau cho nên người ta thường gọi gián
là côn trùng hóa thạch sống.
Gián là loại côn trùng ăn tạp, sống tụ tập về đêm.
Chủng loại rất nhiều, phân bổ rất rộng. Gián mình bẹt,
trứng hình tròn rộng, màu vàng nâu cho đến màu đen.
Đầu nhỏ, nghiêng về phía sau, có thể xoay được, râu
xúc giác dài dạng tơ, có hơn 100 khúc, mắt kép rất phát
triển, cánh trước chất da, cánh sau chất màng. Chân
phát triển mạnh, khả năng bay lượn kém. Miệng kiểu
nhai hút, bụng bẹt rộng, có một cặp đuôi chia khúc rõ
rệt; con đực còn có một cặp kim thò ra.
Gián xuất hiện sớm nhất ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt
đới cho nên thích sống ở nơi nhiệt độ cao, ẩm ướt, ban
ngày thì ẩn náu, ban đêm mới từ tứ phía tỏa ra. Gián
trong phòng là một trong những loài côn trùng làm mất
vệ sinh nhất, chúng thích sống trong nhiều nơi như:
nhà bếp, nhà kho, phòng bệnh nhân trong bệnh viện,
hố xí... Thực phẩm của con người là đồ ăn mỹ vị của
chúng. Nhà xí, bể tắm, đống rác, các tạp chất và các
đồ bỏ đi trong cống rãnh là nơi chúng thường lui tới
nhấm nháp, hơn nữa, chúng có cái tật xấu là vừa ăn
vừa nôn và vừa xả phân lại, vì chúng có lực khoan đục
22
rất mạnh làm ô nhiễm bên trong và ruột thực phẩm,
cho nên có thể truyền rất nhiều bệnh tật. Có khi gián
tụ tập trong một số bộ phận của các máy điện, thiết bị
thông tin và gây ra sự cố không ngờ tới được.
Gián sinh sôi nảy nở rất nhanh, gián cái cứ cách
một tháng có thể đẻ ra mấy trăm trứng, qua khoảng
nửa năm trứng đã là thành trùng. Năng lực thích nghi
hoàn cảnh của nó rất mạnh, nó có thể chịu đói đến
mười mấy ngày.
Cảm giác của gián rất nhanh nhạy, lại thường hoạt
động về đêm nên rất khó tiêu diệt. Hễ hơi có động hoặc
ánh sáng là chúng chạy không còn thấy tung tích bóng
dáng đâu cả. Vốn là đuôi và kim thò ra có nhiều lông
nhỏ, đó là bộ phận truyền cảm chấn động có độ nhạy
cao. Khi kẻ địch tới gần, chỉ cần có một chút luồng
khí thổi qua đã làm cho các lông nhỏ cong đi, đem tín
hiệu truyền đến thần kinh hai bên mình, trực tiếp làm
23
cho cơ bắp thịt nhanh chóng co lại, khiến chúng lập tức
chạy trốn. Trên hai sợi râu xúc giác ở vòm miệng có
hai chỗ nhô lên nhỏ, mỗi khi lấy đồ ăn chúng thường
dùng râu xúc giác kiểm tra trước một chút, thấy có vật
lạ liền bỏ chạy. Cho nên, có lúc thuốc trừ gián cũng
không có tác dụng.
Gián cũng không phải là chẳng có chút ích gì. Là
hóa thạch sống, nó giúp chúng ta nghiên cứu về sự
tiến hóa của côn trùng. Các nhà khoa học Nhật còn
phát hiện loài gián kỳ dị, sinh đẻ bằng bào thai, tổ
khoét trong gỗ, ăn thớ gỗ, đời sống mang tính quần
tụ. Họ đề ra giả thiết muỗi trắng cổ xưa bắt nguồn từ
gián. Có nhà khoa học căn cứ vào bộ truyền cảm chấn
động không khí nhạy bén của gián ứng dụng vào dự
báo địa chấn, muốn phỏng theo đuôi gián để chế tạo
máy đo địa chấn tiên tiến nhất.
24
Chương 2
CÔN TRÙNG NGUYÊN THỦY
KHÔNG CÁNH
Loại côn trùng không cánh là loại côn trùng nguyên
thủy cổ xưa nhất hiện nay còn tồn tại. Loại côn trùng
này nguyên thủy không có cánh chứ không phải do về
sau thoái hóa. Nói chung mình tương đối nhỏ, cấu tạo
đơn giản, không có biến thái rõ rệt, chân ở ngực phát
triển mạnh, chân ở bụng phần lớn hình thành một số
bộ phận phụ. Thường sinh sống ẩn náu ở nơi đất ẩm
ướt, rất khó phát hiện.
Loại côn trùng này bao gồm 14 bộ: bộ nguyên vĩ,
bộ đàn vĩ, bộ song vĩ, bộ anh vĩ. Chủng loại tương đối
ít. Côn trùng được phát hiện sớm nhất chủ yếu là nhờ
sự hóa thạch của chúng.
Ở trên mình các loại côn trùng này chúng ta dễ nhận
ra vết tích tương tự của động vật chân nhiều khúc (đốt)
sống trên đất liền và tổ tiên côn trùng giả tưởng của
nhu trùng (côn trùng không xương không chân), cũng
có thể thấy hình thức ban đầu của loại côn trùng có
ba khúc (đốt) sáu chân ngày nay.
25
Giả thiết từ xưa trên trái đất đã tồn tại loài động vật
ban đầu sinh sống ở bờ biển hoặc vùng biển nông, về
sau diễn biến theo hai chiều hướng tương phản: một
bộ phận đi vào hải dương mênh mông, biến thành
động vật vỏ cứng (như: tôm, cua...), một bộ phận đi
vào lục địa, biến thành loài nhiều chân (như con rết...),
loại nhện (như con nhện) và loài côn trùng. Côn trùng
không cánh và loại hình nguyên thủy hiện còn tồn tại
là một chứng minh hùng hồn.
6
Côn trùng nguyên thủy nhất là côn
trùng nào?
Côn trùng nguyên thủy nhất là trùng nguyên vĩ. Loại
côn trùng này rất ít chủng loại, chỉ khoảng 200 loại,
tìm thấy cũng muộn. Năm 1907, các nhà khoa học lần
đầu tiên phát hiện ra loài côn trùng này ở Ý.
Tại sao nói trùng nguyên vĩ là nguyên thủy nhất?
Đầu tiên là thân mình nhỏ, chỉ dài 0,5-2 mm, không
có mắt, không có râu xúc giác, cũng không có cánh.
26
Chúng sống ở dưới hòn đá, trong vỏ cây và nơi tối
tăm của các bãi cỏ ẩm ướt. Khí khổng chỉ có hai cặp,
ban đầu mình chỉ có chín khúc, về sau tăng thêm ba
khúc (hiện tượng tăng khúc này chỉ chúng mới có), tất
cả có mười hai khúc. Ba khúc đầu có ba đôi chân. Đôi
chân thứ nhất tương đối phát triển, khi đi thường giơ
cao phía trước đầu, hành vi độc đáo ấy rất ít thấy, đó
chính là tác dụng thay râu xúc giác. Phần bụng có chi
phụ thoái hóa, rất giống động vật có đốt chân. Trùng
nguyên vĩ có miệng lõm vào, chỉ ăn được thân thực
vật bị mục nát, sống ẩn cư.
Loài côn trùng này không có quan hệ nhiều đến
con người nhưng về mặt tiến hóa thì chúng là loài vật
có tính mấu chốt. Chúng có giá trị khoa học cho việc
nghiên cứu sự tiến hóa của hệ thống sinh vật.
7
Tại sao trùng đàn vĩ
lại nhảy giỏi?
Ở nơi ẩm ướt hoang dã hoặc ở dưới vỏ cây mục nát,
nếu bạn quan sát kỹ thường thấy một loại côn trùng
nhỏ biết nhảy, chúng nhỏ quá, thường chỉ dài 1-2mm,
có nhiều màu sắc nhưng đều gần giống màu của đất
nơi chúng ở, rất khó phát hiện. Nhưng vừa khuấy động
là từng con từng con nhảy lên, chúng chính là trùng
đàn vĩ.
27
Kết cấu của trùng đàn vĩ rất đơn giản, thân hình tròn
dài và mặt ngoài nhẵn nhụi, miệng kiểu nhai nhưng lõm
vào phần đầu. Chỉ ăn chất thực vật mục nát, khuẩn,
nấm, địa y... không có mắt kép, chỉ có mắt đơn. Thông
thường râu có 4 đoạn, có đoạn nội cơ. Phần ngực ba
khúc, sáu chân. Phần bụng chỉ có sáu khúc. Trừ phần
thân to nhỏ khác nhau ra, ấu trùng và thành trùng
không có sự phân biệt rõ rệt. Cho nên biến thái cũng
rất nguyên thủy. Nhưng thành trùng vẫn tiếp tục lột xác.
Tại sao trùng đàn vĩ lại nhảy giỏi?
Trùng đàn vĩ lại nhảy giỏi vì phần bụng có bộ máy
bật nảy, bao gồm: ống bụng, bộ nắm giữ và bộ bật,
đều từ chân bụng mà ra. Ống bụng mọc ở mặt bụng
khúc thứ nhất; bộ nắm giữ mọc ở khúc thứ ba, thành
dạng móc câu nhỏ; bộ bật phân chạc mọc ở phía sau
mặt bụng khúc thứ tư. Thông thường trùng cong về
phía trước kẹp ở móc nắm giữ, lúc đó phần cơ bản
của bộ bật phân chạc sinh ra một lực căng rất mạnh,
khi nhảy, do cơ bắp duỗi dài, móc nắm giữ nhả ra, bộ
bật hạ nhanh về phía sau tạo lực cho thân bật nhảy
lên không trung. Kết cấu bật nhảy và
cách bật nhảy như vậy hiếm
thấy ở côn trùng.
Hiện nay đã biết tới
2000 loài côn trùng bộ
đàn vĩ, chúng rải rác
ở khắp nơi, từ mặt đất
28
đến sâu dưới mặt đất chín tấc. Bộ đàn vĩ không có
quan hệ nhiều đến con người, song do thân mình nhỏ
nên khó phát hiện; loài trùng nhỏ này có một giá trị
nhất định trong việc nghiên cứu tiến hóa của côn trùng.
8
Phải chăng con mọt thích “đọc
sách”?
Trong đống sách và quần áo cũ có lúc thấy loại côn
trùng tựa như con cá màu bạc, mình chỉ dài 1cm, chạy
rất nhanh, chúng chính là con mọt. Chúng rất thích
“đọc sách” vì sách có thể giải thoát cơn đói của chúng.
Con mọt là côn trùng không cánh nguyên thủy, mình
nhỏ và mềm, dạng bẹt bằng, có phủ lớp vẩy thường là
màu trắng bạc, miệng kiểu nhai, râu xúc giác dạng tơ
dài, có hơn 30 đoạn, có mắt kép, nhỏ và tách ra, không
Trứng
Thành trùng
Ấu trùng
Ấu trùng
Ấu trùng
29
có mắt đơn. Mình có 14 khúc. Đặc biệt là phần bụng
có 11 khúc, đoạn cuối có một cặp đuôi dài, một đuôi
giữa dạng tơ, thành dạng ba chạc dễ nhận ra. Chúng
hoạt động về đêm, thường lấy sách vở, quần áo, giấy
làm đồ ăn, là loại côn trùng có hại.
Con mọt làm sao sống được trong sách không có nước?
Chúng đã lợi dụng sự tác dụng tương hỗ nguyên tố
oxy của đồ ăn và của chất dinh dưỡng tàng trữ trong
mình để sinh ra nước cung cấp cho bản thân. Cho nên,
con mọt không thèm uống nước mà vẫn sống được. Có
một số con mọt sinh sống ở nơi hoang dã; còn một số
cùng sống chung trong tổ kiến, tổ mối.
30
Chương 3
PHẢI CHĂNG CÔN TRÙNG
LƯU LUYẾN CUỘC SỐNG
DƯỚI NƯỚC?
Người ta cho rằng thủy tổ côn trùng đến từ biển cả.
Song số côn trùng thực sống suốt đời trong biển cả
không nhiều. Lịch sử đã đẩy côn trùng lên vũ đài lục
địa mênh mông, đa dạng. Nhưng kỳ quái là chúng ta
vẫn thấy ảnh hưởng của nước - gốc rễ của sinh mệnh
- đến cuộc sống của côn trùng. Điều đó không những
biểu hiện nước là thành phần nhiều nhất trong cơ thể
côn trùng (thường trên 70-80%) mà côn trùng cũng
không thể tách rời khỏi nước được. Ngày nay, côn trùng
sống trong nước khoảng 5 vạn loài, chia thành gần 10
bộ. Trong đó có một số côn trùng đem ấu trùng đưa
xuống nước (chuồn chuồn, phù du (con vờ), muỗi...),
một số thành trùng và ấu trùng đều sinh sống trong
nước. Đương nhiên, cuộc sống nương nhờ nước của
chúng là tính tái sinh, vì cấu tạo cơ bản của chúng
đã tương tự như côn trùng trên lục địa. Khảo sát cuộc
sống của chúng một chút cũng là điều thú vị.
31
9
Có đúng là “kiếp phù du sớm nở
tối tàn”?
Con phù du (con vờ) là trùng nhỏ rất đẹp, nhưng yếu
đến nổi gió thổi bay. Một thân hình gầy yếu dài 1cm,
một đôi mắt to nhưng không hồn, hai đôi cánh mỏng
manh dạng như cái quạt xếp, cánh trước to rộng thậm
chí còn dài hơn cả thân mình, cánh sau nhỏ hẹp thu
lại về phía sau, tuy cũng có miệng kiểu nhai nhưng
không lấy đồ ăn. Sáu chân yếu mềm, chỉ có thể bám
chứ không đi được. Thường dựng một đôi cánh. Có hai
cái đuôi dạng phân đoạn, dài hơn cả thân. Đến cả lực
bay lên chúng cũng không có, chỉ có thể nâng lên hạ
xuống, lúc cao lúc thấp, lúc nổi lúc trầm tựa như khiêu
vũ vậy. Bộ dạng đó có sống lâu không?
Sau khi mọc lông trở
thành trùng, phù du chỉ
sống được một ngày,
thậm chí vài giờ. Sau
khi con đực con cái giao
phối, con đực chết rất
nhanh, sau khi đẻ trứng
xuống nước, con cái cũng
chết luôn. Đúng là “kiếp
phù du sớm nở tối tàn”.
Phù du đẻ trứng trong
nước, sau khoảng 10
32
ngày trứng nở thành ấu trùng nhỏ, sống trong nước
tới 2-3 năm, qua 23 lần lột xác. Ấu trùng phù du lại
tương đối sống lâu.
Ấu trùng phù du ở dưới đáy nước, đi lại không nhanh.
Chủ yếu là ăn các mảnh bã của thực vật, mùa đông
sống nấp dưới đá hoặc trong đám cỏ dưới nước. Đến
mùa xuân thành dạng bướm nước, khoác một bộ mặt
giả, toàn thân phủ một lớp áo mỏng, mình màu tối đen,
nửa cánh trong suốt, bên rìa có rất nhiều lông, lúc đó
gọi là á thành trùng. Á thành trùng bay đậu trên cành
cây và còn phải lột xác một lần nữa mới trở thành phù
du đẹp đẽ.
Phù du (con vờ) cũng là một loại côn trùng rất lâu
đời, 200 triệu năm về trước đã tìm thấy chúng trong hổ
phách của thời kỳ đầu cổ sinh. Ngày nay có khoảng
1000 loài phù du.
Giá trị kinh tế của con phù du không lớn, nhưng
thành trùng và ấu trùng đều có thể làm mồi nuôi cá.
10
Tại sao chuồn chuồn đạp nước?
Chuồn chuồn là loài côn trùng chúng ta rất quen
thuộc. Mùa hè, mùa thu, trước và sau khi mưa, chúng
bay thành đàn, trẻ con thích đuổi bắt. Nhưng bạn có
biết quá khứ của chúng thế nào không?
Chuồn chuồn cũng như con gián đều là “lão tiền bối”
của thế giới côn trùng. Nhờ chuồn chuồn hóa thạch mà
33
chúng ta biết chúng đã có từ 300 triệu năm về trước.
Thời đó khí hậu trên trái đất ấm áp và ẩm ướt, cây cối
mọc rất cao và lớn. Cánh và thân mình chuồn chuồn
thời đó rộng và to béo hơn của chuồn chuồn ngày nay,
thân mình to gấp 7-8 lần thân mình của chuồn chuồn
thời nay, nhưng mắt kép lại tương đối nhỏ. Cánh xòe
ra tới 75 cm. Khi nghỉ, cánh khép lại trên mình phía
sau lưng, rất giống con gián. Loại chuồn chuồn to lớn
này bay lượn trong rừng rậm.
Về sau, theo hoàn cảnh thay đổi, loại chuồn chuồn
to lớn này bị tuyệt vong. Chuồn chuồn tiến hóa theo
chiều hướng bay lượn mới trở thành tư thế nhanh nhẹn
mới của chuồn chuồn hiện tại.
Chuồn chuồn có thể gọi là quán quân bay. Chúng
bay trên không với những động tác tài tình, dứt khoát,
nhanh nhẹn, dáng bay đẹp. Lúc quay tròn, lúc bay
nhanh. Diện tích hai đôi cánh của chuồn chuồn chỉ có
45cm2, trọng lượng chỉ là 0,005g nhưng mỗi giây có thể
vỗ từ 20-40 lần, mỗi giờ bay tới 150 km. Có loài chuồn
chuồn bay đường dài tới hơn một ngàn cây số. Về sau,
34
có người đã phá...
Hãy trả lời em tại sao?. T.7 / Nguyễn Kim Lân d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
196tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Nguyễn Kim Lân d.
001 -- dc 22
H412
Nguyễn Kim Lân dịch
hãy trả lời em tại sao?
tập 7
trÌNH BẢO XƯỚC - trƯƠNG TRọNG ĐỨc
Nguyễn Kim Lân dịch
Chịu trách nhiệm xuất bản:
ts. quách thu nguyệt
Biên tập:
trí vũ - thu nhi
Xử lý bìa:
bùi nam
Sửa bản in:
quốc khánh - thu nhi
Kĩ thuật vi tính:
vũ phượng
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161B Lý Chính Thắng - Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT: 39316289 - 39316211 - 38465595 - 38465596 - 39350973
Fax: 84.8.38437450 - E-mail: nxbtre@ hcm.vnn.vn
Website: http://www.nxbtre.com.vn
Chi nhánh nhà xuất bản trẻ tại Hà Nội
20 ngõ 91, Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa - Hà Nội
ĐT & Fax: (04) 37734544
E-mail: vanphongnxbtre@ hn.vnn.vn
4
Chương 1
THẾ GIỚI CÔN TRÙNG KỲ DIỆU
Trên thế giới này, không một sinh vật nào lạ lùng
như côn trùng. Trên trời, ở mặt đất, dưới sông biển,
trong lòng đất, trong khe đá; từ hai cực đến xích đạo,
từ Đông sang Tây, từ sa mạc mênh mông đến rừng
sâu rậm rạp... không có nơi nào là vắng mặt chúng,
chỗ nào cũng thấy bóng dáng chúng, chỗ nào cũng
thấy chúng hoạt động. Bất kể xuân, hạ, thu, đông, bất
kể ngày đêm, bất kể mưa nắng, chúng luôn luôn có
mặt bên bạn. Trong số bọn chúng, có một số làm bạn
thích thú, yêu quí; có một số làm bạn chán ghét đến
căm thù; có loài làm bạn thích không rời tay; có loài
làm bạn phải nhượng bộ, lùi bước...
1
Gia tộc côn trùng lớn
như thế nào?
Côn trùng là gia tộc lớn nhất trong giới sinh vật hiện
nay, côn trùng tối thiểu có tới 750 ngàn loại, chiếm tới
4/5 tất cả các loài sinh vật.
5
Côn trùng thuộc ngành chân khớp (động vật chân
có khớp, có đốt), chúng không những có thân mình
chia khúc mà còn có các chân chia đốt. Cùng ngành
chúng có lớp giáp xác (lớp vỏ cứng), lớp nhện và lớp
đa túc. Phân biệt lớp côn trùng ở đặc trưng chủ yếu
của chúng: mình chia ra ba phần gồm: phần đầu, phần
ngực và phần bụng, phần ngực có đôi cánh và ba đôi
chân. Dưới lớp côn trùng thường chia nhỏ thành 34 bộ,
dưới bộ có họ, giống cho đến loài.
Động vật khác
Bộ cánh vỏ
Các bộ khác
Bộ cánh đôi
y
vả
Bộ cá
nh m
àng
có
Bộ cánh cùng
nh
cá
Bộ cánh một nửa
Bộ
Bộ cánh thẳng
Tỉ lệ lớp côn trùng chiếm trong tất cả giới động vật
Đặc trưng thân mình thông thường của côn trùng theo
trình độ tiến hóa có thể chia lớp côn trùng như sau:
6
I. PHÂN LỚP KHÔNG CÁNH: mình nhỏ, không cánh,
biến thái không rõ rệt.
1. Bộ nguyên vĩ (bộ đuôi nguyên): mình nhỏ, không
có mắt kép, không có râu xúc giác, không cánh,
sáu chân, thức ăn chính là vật hữu cơ phong phú
ở trong đất, bộ này khoảng 300 loài.
2. Bộ đàn vĩ (bộ đuôi bật): nhỏ bé, có mắt kép đơn
giản, có râu xúc giác, không cánh, sáu chân, có bộ
đàn (bộ búng, bật) đặc biệt, khoảng 2000 loài.
3. Bộ song vĩ (bộ đuôi đôi): không có mắt kép, có râu
xúc giác, không cánh, sáu chân, đuôi phát triển mạnh
thành dạng kìm, khoảng 600 loài.
Râu xúc giác
Chân trước
Mắt đơn
Mắt kép
Ngực trước
Cánh trước
Ngực giữa
Ngực sau
Cánh sau
Chân giữa
Chân sau
Đuôi
Đặc trưng thân mình thông thường của côn trùng
(1. Phần đầu; 2. Phần ngực; 3. Phần bụng)
7
4. Bộ anh vĩ (bộ đuôi dây tua trang sức): mình nhỏ,
không cánh, có râu xúc giác dạng tơ dài, phần bụng
có hai sợi râu đuôi (vĩ tu) và một sợi tơ đuôi giữa
(trung vĩ tu), khoảng 500 loài.
Những bộ côn trùng này cả đời không có cánh, biến
thái không rõ rệt, rất gần loại tổ tiên động vật không
xương sống nguyên thủy; ít có quan hệ đến nhân loại,
nhưng có giá trị đặc biệt khi nghiên cứu sự tiến hóa
của côn trùng.
II. PHÂN LỚP CÓ CÁNH: loài côn trùng tương đối cao
đẳng, có cánh, biến thái rõ rệt.
Các bộ của mạng côn trùng
8
5. Bộ phù du: côn trùng trưởng thành (thành trùng)
mình mềm, tuổi thọ ngắn, miệng thoái hóa, cánh
chất màng, gân cánh dạng lưới, cánh trước to hơn
cánh sau nhiều. Ấu trùng sinh ở dưới nước, khoảng
2000 loài.
6. Bộ chuồn chuồn: mình to, mắt to, râu xúc giác nhỏ,
miệng kiểu nhai, cánh chất màng, gân cánh dạng
mạng lưới, bán biến thái. Ấu trùng sinh ở nước,
khoảng 5000 loài.
7. Bộ gián: hình dáng loại trung, râu xúc giác dạng tơ
dài và nhiều đoạn, cánh trước dạng giấy dai, cánh
sau chất màng, miệng kiểu nhai, chân thích hợp cho
đi nhanh, ấu trùng và thành trùng (côn trùng trưởng
thành) tương tự, khoảng 7000 loài.
8. Bộ ngựa trời: loại côn trùng lớn và săn bắt mồi,
ngực trước kéo dài, chân trước thành chân bắt mồi,
cánh trước chất da, cánh sau chất màng, ấu trùng
và thành trùng tương tự, khoảng 1800 loài.(*)
Những bộ côn trùng này nằm trong loại có cánh, là loại
nguyên thủy đẳng cấp tương đối thấp.
9. Bộ trực cánh (bộ cánh thẳng): hình dáng loại trung,
cánh trước chất da, cánh sau chất màng, miệng
kiểu nhai, đồ ăn là thực vật, là loài có hại. Biến thái
không hoàn toàn, khoảng 20.000 loài.
*. Có nơi gọi con bọ ngựa là con ngựa trời.
9
10. Bộ cánh da: cánh trước nhỏ, cánh sau to, chất
màng, miệng kiểu nhai, phía sau thân (mình) có
một cặp đuôi dạng kim, khoảng 1200 loài.
11. Bộ đẳng cánh (bộ cánh bằng): thân mềm, miệng
kiểu nhai, xúc giác dạng tràng hạt, mắt thoái hóa,
khoảng 2000 loài.
12. Bộ bán cánh (bộ cánh một nửa): cánh trước
thường là cánh bán vỏ, cánh sau chất màng, miệng
kiểu chọc hút, ấu trùng và thành trùng tương tự,
khoảng 30.000 loài.
13. Bộ cánh cứng (bộ cánh như nhau): miệng kiểu
chọc hút, cánh đều là chất da hoặc chất màng, rất
nhiều loài là sâu bọ chính làm hại nông nghiệp,
khoảng 32.000 loài.
Những bộ côn trùng này tuy có cánh nhưng thuộc về
biến thái không hoàn toàn.
14. Bộ cánh gân: cánh chất màng, gân cánh dạng
mạng lưới, miệng kiểu nhai, râu xúc giác dài, mắt
kép lồi ra, loại bắt mồi, khoảng 4.500 loài.
15. Bộ cánh vỏ: cánh trước chất sừng, không có
gân, cánh sau chất màng, miệng kiểu nhai, khoảng
300.000 loài, là bộ lớn nhất trong lớp côn trùng.
16. Bộ cánh lông: thành trùng dạng bướm, nhiều
lông, râu xúc giác dạng tơ phát triển mạnh, mắt
kép lồi ra, miệng kiểu thoái hóa, khoảng 4.000 loài.
10
17. Bộ cánh vẩy: cánh chất màng và có vẩy, miệng
kiểu xi-phông. Chia ra hai loại: bướm và ngài, khoảng
140.000 loài, là bộ lớn thứ hai trong lớp côn trùng.
18. Bộ cánh đôi: cánh trước phát triển nhanh, chất
màng, cánh sau chỉ là phần cân bằng, gân cánh
đơn giản, miệng kiểu chọc hút, khoảng 90.000 loài,
phần lớn là côn trùng có hại.
19. Bộ cánh màng: cánh chất màng, gân cánh tương
đối ít, miệng kiểu nhai hoặc nhai hút, phần lớn là
côn trùng có tính xã hội (sống theo đàn), khoảng
86.000 loài.
20. Bộ bọ chét (cánh ống): mình nhỏ, bẹt dọc, cánh
thoái hóa, miệng thích hợp cho kiểu chọc hút, chân
sau giỏi nhảy, sống ký sinh, là côn trùng có hại,
khoảng 1.200 loài.
Các bộ côn trùng này có nhiều chủng loại, biến thái
hoàn toàn.
2
Kết cấu hình dáng của
côn trùng ra sao?
Thân mình côn trùng tương đối nhỏ nhưng bên trong
cái nhỏ đó lại là sự biến đổi rất lớn. Thân mình côn
trùng dạng khúc dài nhất tới 30cm, loại ong ký sinh
nhỏ nhất chỉ là 0,2mm, lớn nhất và nhỏ nhất chênh
nhau 1500 lần. Thân mình côn trùng tựa như động vật
11
có khúc vậy, có vỏ ngoài rất rắn gọi là mai. Da ngoài
cứng là lớp bảo hộ và giữ cho thân mềm mại ở bên
trong, phần lõm vào là điểm dính cho các bắp thịt,
toàn bộ cơ bắp trực tiếp liền với vỏ cứng ngoài (mai),
có lợi cho sự chuyển động. Càng quan trọng hơn là:
mặt ngoài da phủ chất nến, chất dầu để ngăn ngừa
nước tiêu tán đi, đây là việc hệ trọng hàng đầu đối với
động vật nhỏ bé sống trên đất liền. Mặt ngoài da có
kết cấu dạng lông lại là bộ phận cảm giác nhiều mặt
của côn trùng. Nhưng nếu mai là cả một miếng thì rất
phiền phức, may là có nhiều màng nối hàng loạt vẩy
lại với nhau làm cho côn trùng có được tính nhanh
nhạy nhất định.
Ngoài ra, côn trùng còn mang dấu ấn của tổ tiên
dạng nhu trùng (động vật không xương, không chân)
nhiều khúc, toàn thân có tới 20 khúc nối lại với nhau
thành ba đoạn rõ ràng: phần đầu, phần ngực và phần
bụng. Phần đầu có 6 khúc, phần ngực có 3 khúc và
phần bụng có 11 khúc. Phần đầu mọc một đôi râu
xúc giác, mắt đơn mắt kép và miệng, thành một trung
tâm cảm giác và bắt mồi của côn trùng. Phần ngực
mọc ba đôi chân phân đốt, thường có hai đôi cánh, là
trung tâm vận động của côn trùng. Phần bụng có tâm
tạng, đường tiêu hóa, đường hô hấp và tuyến sinh đẻ,
là trung tâm trao đổi dinh dưỡng và sinh đẻ của côn
trùng. Kết cấu thân mình tinh xảo và hợp lý đó không
có ở các loài động vật trước, nó cũng đặt một nền móng
12
cho kết cấu thân mình của động vật cấp cao hơn, đó
là kết quả chọn lọc tự nhiên qua một thời gian dài.
Chúng ta hãy phân tích cụ thể một chút mấy loại
kết cấu bộ máy dưới đây:
1. Râu xúc giác muôn hình muôn vẻ: râu xúc giác
có ba bộ phận hợp thành: khúc cán, khúc cuống, khúc
roi. Khúc roi thường là nhiều khúc hợp thành, biến đổi
nhiều, lại có thể chia ra mấy kiểu loại. Côn trùng cùng
loại thường có râu xúc giác như nhau, nhưng một số
râu xúc giác riêng của côn trùng cái và côn trùng đực
không giống nhau. Thí dụ: muỗi cái có râu xúc giác
dạng tơ, muỗi đực lại có dạng lông vũ. Trên râu xúc
giác có rất nhiều bộ máy cảm giác làm cho côn trùng
có các chức năng sinh lý như: xúc giác, vị giác và khứu
giác nhanh nhạy.
Dạng
lông vũ
Dạng tơ
Dạng
trùng
hạt
Dạng Dạng
gậy
mang cá
Dạng đầu
gối cong
Khúc roi
Khúc
cuống
Khúc
cán
Các loại râu xúc giác của côn trùng
13
2. Mắt đơn và mắt kép: ngoài mắt đơn có tác dụng
cảm quan ra, nét đặc biệt của côn trùng là có cặp mắt
kép ở hai bên phần đầu do hàng chục đến hàng vạn
mắt nhỏ gộp lại mà thành (mắt kép của bướm gió do
17.000 mắt nhỏ gộp lại). Mắt đơn và mắt kép phối hợp
lại sẽ giúp côn trùng nhìn thấy rõ hơn. Có một số côn
trùng có mắt kép to và lồi ra, phạm vi nhìn tới 360 độ.
3. Miệng có nhiều kiểu loại: miệng là do chi phụ của
phần đầu phát triển mà có. Thường là do mấy phần
sau đây gộp lại: hàm trên, hàm dưới, môi dưới và môi
trên đơn nhất, lưỡi. Côn trùng có nhiều kiểu loại miệng
để phù hợp với các loại đồ ăn.
Loại nguyên thủy là miệng kiểu nhai của con châu
chấu thuộc bộ cánh thẳng, thích hợp cho việc nhai đồ
ăn là thực vật.
Miệng của con ong mật để ăn phấn hoa và hút mật
hoa thuộc kiểu nhai hút.
Miệng của ruồi nhặng để liếm hút và chọc hút, hút
các chất nước.
Thay đổi nhiều nhất là miệng kiểu xi-phông của loài
bướm, có thể hút mật của các loài hoa ở chỗ sâu nhất.
Miệng đa dạng hóa sẽ mở rộng phạm vi côn trùng
lấy (bắt) đồ ăn (mồi), cách lấy (bắt) đồ ăn (mồi) cũng
phong phú hơn, có lợi cho sự tồn tại của côn trùng.
4. Chân vạn năng: ở giai đoạn ấu trùng, côn trùng
thường có chân bụng. Sau khi trưởng thành thường không
14
còn chân bụng, chỉ có ba cặp chân ngực. Thường là
do mấy phần sau đây hợp thành: khúc cơ bản, khúc
xoay, khúc đùi, khúc bắp, khúc cổ chân, trừ khúc cổ
chân ra, nói chung đều là một khúc, khúc cổ chân
thường có từ 2-5 khúc, đoạn cuối có móng và các cấu
tạo phụ thuộc. Kết cấu của chân rất linh hoạt, thích
ứng với hoàn cảnh nơi trú chân và phương thức hoạt
động nên chân của các loài côn trùng có nhiều hình
thái khác nhau để thực hiện các chức năng khác nhau.
Chân đi thích hợp cho việc đi lại, chân bắt thích hợp
cho việc bắt mồi kiếm đồ ăn, chân nhảy phù hợp với
việc nhảy, chân bơi dùng để bơi trong nước, chân đào
bới để đào bới đất... nhờ vào đó mà côn trùng có thể
có nhiều hoạt động đa dạng, phức tạp.
Chân nhảy
Chân bơi
Chân mang
phấn hoa
Chân bám leo
Chân bắt
Chân đi
Chân đào bới
Chân bám
Các loại chân của côn trùng
15
5. Đôi cánh quí giá: côn trùng là loài động vật không
có xương sống duy nhất có thể bay trong không trung,
trở thành sinh vật sớm nhất có thể sống trong không
trung trong toàn thể động vật, mấu chốt là nhờ xuất
hiện cánh. Do kết cấu và chất liệu của cánh khác nhau
trong các loài côn trùng nên có thể chia ra:
- Cánh màng dạng màng mỏng trong suốt.
- Cánh vỏ có gân chắc khó nhận ra.
- Cánh một nửa, phần gốc dầy chắc, phần đầu chất
màng.
- Cánh có vẩy thì chất màng có nhiều vẩy và lông
nhỏ.
- Cánh đôi: cánh sau đặc biệt trở thành cánh cân
bằng...
Bán cánh vỏ
Cánh vỏ
Cánh sau thành
cánh cân bằng
Cánh vẩy
Cánh kép và
cánh màng
Các loại cánh của côn trùng
16
Còn có loại côn trùng thiếu cánh hoặc cánh thoái
hóa. Cánh côn trùng có nhiều gân, các loại côn trùng
khác nhau thì sắp xếp gân cũng khác nhau. Cánh khác
nhau thì cách bay và tác dụng bay đều khác nhau.
Cánh sinh ra và tồn tại làm cho hệ thống thần kinh và
cơ bắp cũng có những thay đổi lớn, do có cánh nên
hoạt động của côn trùng càng phức tạp, càng thích ứng
với nhiều hoàn cảnh, mở rộng nhiều con đường sống,
đặt nền móng cho côn trùng phát triển thịnh vượng.
3
Bản lĩnh và năng lực thích ứng của
côn trùng như thế nào?
Do kết cấu hình thái của côn trùng đặc sắc, muôn
màu, muôn vẻ nên chúng có được bản lĩnh cao siêu
và năng lực thích ứng khéo léo.
- Côn trùng có thể lực làm con người phải kinh ngạc.
Cơ bắp của côn trùng đều là thớ ngang và có rất nhiều
thớ, có loài đến hơn 4.000 thớ (người chỉ có 400-500
thớ); khi cơ bắp co lại còn có thể cung cấp năng lượng
khiến côn trùng có thể tạo ra được một thể lực không
tương xứng với tỉ lệ thân thể. Thí dụ: một con kiến thông
thường có thể nâng một vật nặng gấp mười lần trọng
lượng bản thân, con bọ chét có sức bật nhảy cao hơn
100 lần chiều cao bản thân. Sức mạnh kinh người ấy
làm cho côn trùng trở thành một kẻ mạnh.
- Cảm giác nhanh nhạy: con bướm đực cách xa hơn
17
2km có thể ngửi thấy mùi của con bướm cái tỏa ra,
bộ vị giác ở khớp cổ chân con bướm vàng mình có
gai có thể nhận ra được đường mía khi nồng độ chỉ
là 1/12.300g phân tử, độ nhạy nào cao hơn 200 lần
vị giác của đầu lưỡi con người. Mắt kép của rất nhiều
loại côn trùng có thể thu nhận tín hiệu sóng ánh sáng
của ánh sáng lệch tia tử ngoại. Cảm giác nhanh nhạy
làm cho côn trùng nhanh chóng có phản ứng với kích
thích ngoại giới.
- Dễ ăn: căn cứ tính chất khác nhau của đồ ăn, có
rất nhiều loại đồ ăn cho côn trùng, bao gồm: thực vật,
động vật và các động vật bị rửa nát, thậm chí đến cả
phân và xác chết chúng cũng ăn, khiến chúng tận dụng
hết các nguồn đồ ăn để sinh tồn...
- Bản lĩnh bay cao siêu: côn trùng có hệ thống khí
quản phát triển và bộ máy hô hấp đa biến nên thở hút
dễ dàng ở mọi nơi. Không những cung cấp thừa oxy
mà còn giảm nhẹ được trọng lượng bản thân, tăng được
sức nâng. Khi bay, đôi cánh khỏe mạnh, nhanh nhạy
dùng động tác vỗ cánh và nghiêng lệch về phía trước,
về phía sau, kể cả vặn mình, tạo thành lực đẩy và áp
lực khí ở phía trên và dưới cánh khác nhau khiến cho
mình tiến về phía trước linh hoạt. Có loài cánh vỗ đập
rất nhanh: cánh con mối, nhặng mỗi giây vỗ cánh tới
180-197 lần. Tốc độ bay của chuồn chuồn tới 140
km/h. Có loài côn trùng có thể nhờ vào góc nghiêng
của cánh khi giương cánh ra hoặc trái hoặc phải để
18
điều chỉnh dao động của cánh trước và cánh sau, điều
chỉnh tốc độ để bay ngược lại hoặc bay lùi, thậm chí
có lúc còn tạm dừng trên không trung... những động
tác đó làm cho côn trùng bắt mồi, trốn chạy kẻ thù,
tìm kiếm đực cái và di chuyển như ý muốn.
- Năng lực thích ứng tài tình: hình dáng của côn
trùng đa biến, làm cho chúng không những có màu bảo
hộ (như châu chấu trong bụi cỏ), màu cảnh giới (như
phần bụng ong vàng có các vằn ngang đen vàng xen
kẽ) mà còn có màu sắc giống màu sắc chung quanh
(như con bọ tre, con bướm lá cây). Không ít loài côn
trùng còn có các bản năng như giả chết, xả khí độc.
- Sức sinh sôi mau chóng: côn trùng là loại sinh đẻ
rất nhanh. Muỗi vằn cái Ai Cập bình quân đẻ 1360
trứng. Chu kỳ sống ngắn, chỉ vài ba ngày hoặc vài
tuần, một số côn trùng một năm sinh ra hơn mười đời
hoặc mấy chục đời. Sâu bông
theo thời tiết thay đổi mà dùng
nhiều phương thức sinh sản để
sinh đẻ, loại sâu bông con nở
ra 5 ngày đã trưởng thành, bắt
đầu một thế hệ mới sâu bông
con. Về việc sinh đẻ, côn trùng
có nhiều phương cách, chúng
biết đẻ trứng lên đồ ăn và ký
chủ để đảm bảo nguồn đồ ăn
Màu sắc giống màu sắc
lá cây của bướm lá cây
cho ấu trùng.
19
- Biến thái phức tạp và lịch sử cuộc sống: một đời
côn trùng từ trứng, ấu trùng đến thành trùng phải qua
hàng loạt biến hóa, đó là biến thái. Côn trùng nguyên
thủy loại đẳng cấp thấp không có biến thái rõ rệt, loài
côn trùng tương đối cao cấp từ biến thái không hoàn
toàn (thiếu thời kỳ nhộng) đến biến thái hoàn toàn, hình
thức cũng muôn màu muôn vẻ. Ý nghĩa thích ứng của
biến thái ở chỗ mở rộng hoàn cảnh trú ngụ và nguồn
gốc đồ ăn, làm cho nó có năng lực sinh tồn mạnh. Đối
với côn trùng, thích ứng với hoàn cảnh đa biến có ý
nghĩa quan trọng.
4
Côn trùng đi đâu khi
mùa đông đến?
Về mùa đông, chúng ta thấy rất ít côn trùng, vậy
chúng đi đâu?
Mùa đông vốn là mùa đào thải tuyệt đại bộ phận
cá thể côn trùng, dùng những phương thức khác nhau,
dùng cách “ngủ đông” để tự bảo hộ mình.
Trước khi ngủ đông, côn trùng thường ăn một khối
lượng lớn đồ ăn để trong mình trữ được tinh bột,
protein và mỡ để dùng khi qua đông. Đồng thời giảm
bớt phần nước trong cơ thể, tăng cao điểm đóng băng.
Ngoài ra, chúng còn chọn nơi trú đông là nơi ẩn náu
ấm áp. Côn trùng có mấy cách qua đông khác nhau:
- Qua đông ở dạng ấu trùng: như sâu bông chui
20
xuống đất 10cm; sâu róm thông ở trong đất gần cây;
con gián trốn ở góc nhà; sâu keo chui vào trong ruột
quả...
- Qua đông ở dạng nhộng: như nhộng của bướm,
ngài... ở trên cành cây, nhộng hướng về mặt trời để
qua đông.
- Qua đông ở dạng thành trùng như dế trốn trong
các hòn đất ở góc nhà: nhặng trốn trong góc nhà; bọ
rùa cuộn tròn trong lá rụng hoặc trong khe cây.
- Qua đông ở dạng trứng: châu chấu vùi trứng trong
đống đất hướng về mặt trời; ngựa trời dính bao trứng
trên cành cây; bướm lấy lông phủ đậy trứng; ong mắt
đỏ đẻ trứng gửi trên mình ấu trùng ký chủ.
Mùa đông qua đi, dựa vào các tín hiệu như: lượng
nước, đồ ăn, ánh nắng mặt trời, độ ẩm...côn trùng thức
tỉnh lại và bắt đầu cuộc sống mới.
Côn trùng trú đông
21
5
Tại sao người ta gọi con gián là một
hóa thạch sống?
Hơn 300 triệu năm trước đã có gián. Hình thái của
gián hóa thạch và hình thái của gián ngày nay gần
tương tự như nhau cho nên người ta thường gọi gián
là côn trùng hóa thạch sống.
Gián là loại côn trùng ăn tạp, sống tụ tập về đêm.
Chủng loại rất nhiều, phân bổ rất rộng. Gián mình bẹt,
trứng hình tròn rộng, màu vàng nâu cho đến màu đen.
Đầu nhỏ, nghiêng về phía sau, có thể xoay được, râu
xúc giác dài dạng tơ, có hơn 100 khúc, mắt kép rất phát
triển, cánh trước chất da, cánh sau chất màng. Chân
phát triển mạnh, khả năng bay lượn kém. Miệng kiểu
nhai hút, bụng bẹt rộng, có một cặp đuôi chia khúc rõ
rệt; con đực còn có một cặp kim thò ra.
Gián xuất hiện sớm nhất ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt
đới cho nên thích sống ở nơi nhiệt độ cao, ẩm ướt, ban
ngày thì ẩn náu, ban đêm mới từ tứ phía tỏa ra. Gián
trong phòng là một trong những loài côn trùng làm mất
vệ sinh nhất, chúng thích sống trong nhiều nơi như:
nhà bếp, nhà kho, phòng bệnh nhân trong bệnh viện,
hố xí... Thực phẩm của con người là đồ ăn mỹ vị của
chúng. Nhà xí, bể tắm, đống rác, các tạp chất và các
đồ bỏ đi trong cống rãnh là nơi chúng thường lui tới
nhấm nháp, hơn nữa, chúng có cái tật xấu là vừa ăn
vừa nôn và vừa xả phân lại, vì chúng có lực khoan đục
22
rất mạnh làm ô nhiễm bên trong và ruột thực phẩm,
cho nên có thể truyền rất nhiều bệnh tật. Có khi gián
tụ tập trong một số bộ phận của các máy điện, thiết bị
thông tin và gây ra sự cố không ngờ tới được.
Gián sinh sôi nảy nở rất nhanh, gián cái cứ cách
một tháng có thể đẻ ra mấy trăm trứng, qua khoảng
nửa năm trứng đã là thành trùng. Năng lực thích nghi
hoàn cảnh của nó rất mạnh, nó có thể chịu đói đến
mười mấy ngày.
Cảm giác của gián rất nhanh nhạy, lại thường hoạt
động về đêm nên rất khó tiêu diệt. Hễ hơi có động hoặc
ánh sáng là chúng chạy không còn thấy tung tích bóng
dáng đâu cả. Vốn là đuôi và kim thò ra có nhiều lông
nhỏ, đó là bộ phận truyền cảm chấn động có độ nhạy
cao. Khi kẻ địch tới gần, chỉ cần có một chút luồng
khí thổi qua đã làm cho các lông nhỏ cong đi, đem tín
hiệu truyền đến thần kinh hai bên mình, trực tiếp làm
23
cho cơ bắp thịt nhanh chóng co lại, khiến chúng lập tức
chạy trốn. Trên hai sợi râu xúc giác ở vòm miệng có
hai chỗ nhô lên nhỏ, mỗi khi lấy đồ ăn chúng thường
dùng râu xúc giác kiểm tra trước một chút, thấy có vật
lạ liền bỏ chạy. Cho nên, có lúc thuốc trừ gián cũng
không có tác dụng.
Gián cũng không phải là chẳng có chút ích gì. Là
hóa thạch sống, nó giúp chúng ta nghiên cứu về sự
tiến hóa của côn trùng. Các nhà khoa học Nhật còn
phát hiện loài gián kỳ dị, sinh đẻ bằng bào thai, tổ
khoét trong gỗ, ăn thớ gỗ, đời sống mang tính quần
tụ. Họ đề ra giả thiết muỗi trắng cổ xưa bắt nguồn từ
gián. Có nhà khoa học căn cứ vào bộ truyền cảm chấn
động không khí nhạy bén của gián ứng dụng vào dự
báo địa chấn, muốn phỏng theo đuôi gián để chế tạo
máy đo địa chấn tiên tiến nhất.
24
Chương 2
CÔN TRÙNG NGUYÊN THỦY
KHÔNG CÁNH
Loại côn trùng không cánh là loại côn trùng nguyên
thủy cổ xưa nhất hiện nay còn tồn tại. Loại côn trùng
này nguyên thủy không có cánh chứ không phải do về
sau thoái hóa. Nói chung mình tương đối nhỏ, cấu tạo
đơn giản, không có biến thái rõ rệt, chân ở ngực phát
triển mạnh, chân ở bụng phần lớn hình thành một số
bộ phận phụ. Thường sinh sống ẩn náu ở nơi đất ẩm
ướt, rất khó phát hiện.
Loại côn trùng này bao gồm 14 bộ: bộ nguyên vĩ,
bộ đàn vĩ, bộ song vĩ, bộ anh vĩ. Chủng loại tương đối
ít. Côn trùng được phát hiện sớm nhất chủ yếu là nhờ
sự hóa thạch của chúng.
Ở trên mình các loại côn trùng này chúng ta dễ nhận
ra vết tích tương tự của động vật chân nhiều khúc (đốt)
sống trên đất liền và tổ tiên côn trùng giả tưởng của
nhu trùng (côn trùng không xương không chân), cũng
có thể thấy hình thức ban đầu của loại côn trùng có
ba khúc (đốt) sáu chân ngày nay.
25
Giả thiết từ xưa trên trái đất đã tồn tại loài động vật
ban đầu sinh sống ở bờ biển hoặc vùng biển nông, về
sau diễn biến theo hai chiều hướng tương phản: một
bộ phận đi vào hải dương mênh mông, biến thành
động vật vỏ cứng (như: tôm, cua...), một bộ phận đi
vào lục địa, biến thành loài nhiều chân (như con rết...),
loại nhện (như con nhện) và loài côn trùng. Côn trùng
không cánh và loại hình nguyên thủy hiện còn tồn tại
là một chứng minh hùng hồn.
6
Côn trùng nguyên thủy nhất là côn
trùng nào?
Côn trùng nguyên thủy nhất là trùng nguyên vĩ. Loại
côn trùng này rất ít chủng loại, chỉ khoảng 200 loại,
tìm thấy cũng muộn. Năm 1907, các nhà khoa học lần
đầu tiên phát hiện ra loài côn trùng này ở Ý.
Tại sao nói trùng nguyên vĩ là nguyên thủy nhất?
Đầu tiên là thân mình nhỏ, chỉ dài 0,5-2 mm, không
có mắt, không có râu xúc giác, cũng không có cánh.
26
Chúng sống ở dưới hòn đá, trong vỏ cây và nơi tối
tăm của các bãi cỏ ẩm ướt. Khí khổng chỉ có hai cặp,
ban đầu mình chỉ có chín khúc, về sau tăng thêm ba
khúc (hiện tượng tăng khúc này chỉ chúng mới có), tất
cả có mười hai khúc. Ba khúc đầu có ba đôi chân. Đôi
chân thứ nhất tương đối phát triển, khi đi thường giơ
cao phía trước đầu, hành vi độc đáo ấy rất ít thấy, đó
chính là tác dụng thay râu xúc giác. Phần bụng có chi
phụ thoái hóa, rất giống động vật có đốt chân. Trùng
nguyên vĩ có miệng lõm vào, chỉ ăn được thân thực
vật bị mục nát, sống ẩn cư.
Loài côn trùng này không có quan hệ nhiều đến
con người nhưng về mặt tiến hóa thì chúng là loài vật
có tính mấu chốt. Chúng có giá trị khoa học cho việc
nghiên cứu sự tiến hóa của hệ thống sinh vật.
7
Tại sao trùng đàn vĩ
lại nhảy giỏi?
Ở nơi ẩm ướt hoang dã hoặc ở dưới vỏ cây mục nát,
nếu bạn quan sát kỹ thường thấy một loại côn trùng
nhỏ biết nhảy, chúng nhỏ quá, thường chỉ dài 1-2mm,
có nhiều màu sắc nhưng đều gần giống màu của đất
nơi chúng ở, rất khó phát hiện. Nhưng vừa khuấy động
là từng con từng con nhảy lên, chúng chính là trùng
đàn vĩ.
27
Kết cấu của trùng đàn vĩ rất đơn giản, thân hình tròn
dài và mặt ngoài nhẵn nhụi, miệng kiểu nhai nhưng lõm
vào phần đầu. Chỉ ăn chất thực vật mục nát, khuẩn,
nấm, địa y... không có mắt kép, chỉ có mắt đơn. Thông
thường râu có 4 đoạn, có đoạn nội cơ. Phần ngực ba
khúc, sáu chân. Phần bụng chỉ có sáu khúc. Trừ phần
thân to nhỏ khác nhau ra, ấu trùng và thành trùng
không có sự phân biệt rõ rệt. Cho nên biến thái cũng
rất nguyên thủy. Nhưng thành trùng vẫn tiếp tục lột xác.
Tại sao trùng đàn vĩ lại nhảy giỏi?
Trùng đàn vĩ lại nhảy giỏi vì phần bụng có bộ máy
bật nảy, bao gồm: ống bụng, bộ nắm giữ và bộ bật,
đều từ chân bụng mà ra. Ống bụng mọc ở mặt bụng
khúc thứ nhất; bộ nắm giữ mọc ở khúc thứ ba, thành
dạng móc câu nhỏ; bộ bật phân chạc mọc ở phía sau
mặt bụng khúc thứ tư. Thông thường trùng cong về
phía trước kẹp ở móc nắm giữ, lúc đó phần cơ bản
của bộ bật phân chạc sinh ra một lực căng rất mạnh,
khi nhảy, do cơ bắp duỗi dài, móc nắm giữ nhả ra, bộ
bật hạ nhanh về phía sau tạo lực cho thân bật nhảy
lên không trung. Kết cấu bật nhảy và
cách bật nhảy như vậy hiếm
thấy ở côn trùng.
Hiện nay đã biết tới
2000 loài côn trùng bộ
đàn vĩ, chúng rải rác
ở khắp nơi, từ mặt đất
28
đến sâu dưới mặt đất chín tấc. Bộ đàn vĩ không có
quan hệ nhiều đến con người, song do thân mình nhỏ
nên khó phát hiện; loài trùng nhỏ này có một giá trị
nhất định trong việc nghiên cứu tiến hóa của côn trùng.
8
Phải chăng con mọt thích “đọc
sách”?
Trong đống sách và quần áo cũ có lúc thấy loại côn
trùng tựa như con cá màu bạc, mình chỉ dài 1cm, chạy
rất nhanh, chúng chính là con mọt. Chúng rất thích
“đọc sách” vì sách có thể giải thoát cơn đói của chúng.
Con mọt là côn trùng không cánh nguyên thủy, mình
nhỏ và mềm, dạng bẹt bằng, có phủ lớp vẩy thường là
màu trắng bạc, miệng kiểu nhai, râu xúc giác dạng tơ
dài, có hơn 30 đoạn, có mắt kép, nhỏ và tách ra, không
Trứng
Thành trùng
Ấu trùng
Ấu trùng
Ấu trùng
29
có mắt đơn. Mình có 14 khúc. Đặc biệt là phần bụng
có 11 khúc, đoạn cuối có một cặp đuôi dài, một đuôi
giữa dạng tơ, thành dạng ba chạc dễ nhận ra. Chúng
hoạt động về đêm, thường lấy sách vở, quần áo, giấy
làm đồ ăn, là loại côn trùng có hại.
Con mọt làm sao sống được trong sách không có nước?
Chúng đã lợi dụng sự tác dụng tương hỗ nguyên tố
oxy của đồ ăn và của chất dinh dưỡng tàng trữ trong
mình để sinh ra nước cung cấp cho bản thân. Cho nên,
con mọt không thèm uống nước mà vẫn sống được. Có
một số con mọt sinh sống ở nơi hoang dã; còn một số
cùng sống chung trong tổ kiến, tổ mối.
30
Chương 3
PHẢI CHĂNG CÔN TRÙNG
LƯU LUYẾN CUỘC SỐNG
DƯỚI NƯỚC?
Người ta cho rằng thủy tổ côn trùng đến từ biển cả.
Song số côn trùng thực sống suốt đời trong biển cả
không nhiều. Lịch sử đã đẩy côn trùng lên vũ đài lục
địa mênh mông, đa dạng. Nhưng kỳ quái là chúng ta
vẫn thấy ảnh hưởng của nước - gốc rễ của sinh mệnh
- đến cuộc sống của côn trùng. Điều đó không những
biểu hiện nước là thành phần nhiều nhất trong cơ thể
côn trùng (thường trên 70-80%) mà côn trùng cũng
không thể tách rời khỏi nước được. Ngày nay, côn trùng
sống trong nước khoảng 5 vạn loài, chia thành gần 10
bộ. Trong đó có một số côn trùng đem ấu trùng đưa
xuống nước (chuồn chuồn, phù du (con vờ), muỗi...),
một số thành trùng và ấu trùng đều sinh sống trong
nước. Đương nhiên, cuộc sống nương nhờ nước của
chúng là tính tái sinh, vì cấu tạo cơ bản của chúng
đã tương tự như côn trùng trên lục địa. Khảo sát cuộc
sống của chúng một chút cũng là điều thú vị.
31
9
Có đúng là “kiếp phù du sớm nở
tối tàn”?
Con phù du (con vờ) là trùng nhỏ rất đẹp, nhưng yếu
đến nổi gió thổi bay. Một thân hình gầy yếu dài 1cm,
một đôi mắt to nhưng không hồn, hai đôi cánh mỏng
manh dạng như cái quạt xếp, cánh trước to rộng thậm
chí còn dài hơn cả thân mình, cánh sau nhỏ hẹp thu
lại về phía sau, tuy cũng có miệng kiểu nhai nhưng
không lấy đồ ăn. Sáu chân yếu mềm, chỉ có thể bám
chứ không đi được. Thường dựng một đôi cánh. Có hai
cái đuôi dạng phân đoạn, dài hơn cả thân. Đến cả lực
bay lên chúng cũng không có, chỉ có thể nâng lên hạ
xuống, lúc cao lúc thấp, lúc nổi lúc trầm tựa như khiêu
vũ vậy. Bộ dạng đó có sống lâu không?
Sau khi mọc lông trở
thành trùng, phù du chỉ
sống được một ngày,
thậm chí vài giờ. Sau
khi con đực con cái giao
phối, con đực chết rất
nhanh, sau khi đẻ trứng
xuống nước, con cái cũng
chết luôn. Đúng là “kiếp
phù du sớm nở tối tàn”.
Phù du đẻ trứng trong
nước, sau khoảng 10
32
ngày trứng nở thành ấu trùng nhỏ, sống trong nước
tới 2-3 năm, qua 23 lần lột xác. Ấu trùng phù du lại
tương đối sống lâu.
Ấu trùng phù du ở dưới đáy nước, đi lại không nhanh.
Chủ yếu là ăn các mảnh bã của thực vật, mùa đông
sống nấp dưới đá hoặc trong đám cỏ dưới nước. Đến
mùa xuân thành dạng bướm nước, khoác một bộ mặt
giả, toàn thân phủ một lớp áo mỏng, mình màu tối đen,
nửa cánh trong suốt, bên rìa có rất nhiều lông, lúc đó
gọi là á thành trùng. Á thành trùng bay đậu trên cành
cây và còn phải lột xác một lần nữa mới trở thành phù
du đẹp đẽ.
Phù du (con vờ) cũng là một loại côn trùng rất lâu
đời, 200 triệu năm về trước đã tìm thấy chúng trong hổ
phách của thời kỳ đầu cổ sinh. Ngày nay có khoảng
1000 loài phù du.
Giá trị kinh tế của con phù du không lớn, nhưng
thành trùng và ấu trùng đều có thể làm mồi nuôi cá.
10
Tại sao chuồn chuồn đạp nước?
Chuồn chuồn là loài côn trùng chúng ta rất quen
thuộc. Mùa hè, mùa thu, trước và sau khi mưa, chúng
bay thành đàn, trẻ con thích đuổi bắt. Nhưng bạn có
biết quá khứ của chúng thế nào không?
Chuồn chuồn cũng như con gián đều là “lão tiền bối”
của thế giới côn trùng. Nhờ chuồn chuồn hóa thạch mà
33
chúng ta biết chúng đã có từ 300 triệu năm về trước.
Thời đó khí hậu trên trái đất ấm áp và ẩm ướt, cây cối
mọc rất cao và lớn. Cánh và thân mình chuồn chuồn
thời đó rộng và to béo hơn của chuồn chuồn ngày nay,
thân mình to gấp 7-8 lần thân mình của chuồn chuồn
thời nay, nhưng mắt kép lại tương đối nhỏ. Cánh xòe
ra tới 75 cm. Khi nghỉ, cánh khép lại trên mình phía
sau lưng, rất giống con gián. Loại chuồn chuồn to lớn
này bay lượn trong rừng rậm.
Về sau, theo hoàn cảnh thay đổi, loại chuồn chuồn
to lớn này bị tuyệt vong. Chuồn chuồn tiến hóa theo
chiều hướng bay lượn mới trở thành tư thế nhanh nhẹn
mới của chuồn chuồn hiện tại.
Chuồn chuồn có thể gọi là quán quân bay. Chúng
bay trên không với những động tác tài tình, dứt khoát,
nhanh nhẹn, dáng bay đẹp. Lúc quay tròn, lúc bay
nhanh. Diện tích hai đôi cánh của chuồn chuồn chỉ có
45cm2, trọng lượng chỉ là 0,005g nhưng mỗi giây có thể
vỗ từ 20-40 lần, mỗi giờ bay tới 150 km. Có loài chuồn
chuồn bay đường dài tới hơn một ngàn cây số. Về sau,
34
có người đã phá...
 





