Sách nói Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh -
Hãy trả lời em tại sao - Tập 08

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 09h:43' 17-11-2024
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 09h:43' 17-11-2024
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Hãy trả lời em tại sao?. T.8 / Lê Thị Kim Ngân, Phạm Hồng Hải, Kim Dân d.
- T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
186tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Lê Thị Kim Ngân, Phạm Hồng Hải, Kim Dân d.
001 -- dc 22
H412
Lê Thị Kim Ngân - Phạm Hồng Hải - Kim Dân dịch
hãy trả lời em tại sao?
tập 8
Đồng Bảo Hoa - Vương Tú Cầm - Triệu Thế Anh
Lê Thị Kim Ngân - Phạm Hồng Hải - Kim Dân dịch
Chịu trách nhiệm xuất bản:
ts. quách thu nguyệt
Biên tập:
trí CÔNG - thu nhi
Xử lý bìa:
bùi nam
Sửa bản in:
trí vũ - thu nhi
Kĩ thuật vi tính:
vũ phượng
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161B Lý Chính Thắng - Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT: 39316289 - 39316211 - 38465595 - 38465596 - 39350973
Fax: 84.8.38437450 - E-mail: nxbtre@ hcm.vnn.vn
Website: http://www.nxbtre.com.vn
Chi nhánh nhà xuất bản trẻ tại Hà Nội
20 ngõ 91, Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa - Hà Nội
ĐT & Fax: (04) 37734544
E-mail: vanphongnxbtre@ hn.vnn.vn
4
Chương 1
Cơ thể con người
là vương quốc tế bào
Trong thế giới động vật phong phú đa dạng và tràn
đầy sức sống, con người là sinh vật cao cấp nhất. Con
người có đại não phát triển, có ngôn ngữ và chữ viết.
Con người có khả năng tư duy trừu tượng, khái quát,
suy xét, lý luận,... Con người có thể nhận thức sâu sắc
về tự nhiên và xã hội, phát hiện và nắm bắt được luôn
các quy luật của nó, rồi còn vận dụng vào việc cải tạo
tự nhiên và xã hội. Chính vì vậy con người là chúa tể
của muôn loài. Nếu len lén nhìn vào thế giới vi mô
của con người qua kính hiển vi, đó hẳn là một thế giới
đặc sắc và “hoành tráng” khiến người ta không khỏi
ngạc nhiên. Trong thế giới vi mô, cơ thể con người trở
nên to lớn đến nỗi trong chốc lát khó có thể thấy hết
được. Từng bộ phận của cái vật to lớn này đều được
rất nhiều tế bào nhỏ tạo thành. Đã có người thống kê
được cơ thể của một người đàn ông có tầm vóc trung
bình do 18x1014 tế bào tạo thành. Sau con số 18 này
phải viết thêm 14 số không nữa, có nghĩa là 1.800.000
tỷ tế bào. Con số đáng kinh ngạc này đủ chứng minh
rằng cơ thể con người là một vương quốc tế bào.
5
1
Tại sao có chàng tí hon và người
khổng lồ trong vương quốc tế bào?
Tế bào - những thần dân của vương quốc tế bào vô cùng bé nhỏ, mắt thường chúng ta không thể nhìn
thấy được, nhưng dưới kính hiển vi thì có thể thấy rõ
ràng. Chúng có đến trăm ngàn dáng vẻ, kích thước
không bằng nhau. Đường kính của một tế bào tuyến
hạch limpho trong cơ thể con người chỉ có 6µm (micromet - một µm bằng một phần ngàn mm), thật quá
bé nhỏ. Vì thế trong vương quốc tế bào, tế bào tuyến
hạch limpho trở thành “chàng tí hon”. Chớ xem thường
những “chàng tí hon” này vì chúng có khả năng tiêu diệt
“địch” dữ dội lắm đấy. Khi vi trùng xâm nhập vào cơ
thể con người, tức vương quốc tế bào, những “chàng tí
hon” liền sản xuất ra một chất hóa học đặc biệt - kháng
thể - rồi lợi dụng thứ vũ khí hóa học này để kháng cự,
tiêu diệt những kẻ xâm nhập và tăng cường khả năng
đề kháng cho cơ thể con người.
Trong vương quốc tế bào, những tế bào noãn có
đường kính 200µm, vì thế những tế bào noãn là những
“người khổng lồ” to béo nhất của vương quốc tế bào.
Những tế bào cơ xương có “thân hình” thon dài khoảng
30-40µm, trở thành “người khổng lồ” dài mảnh khiến
các tế bào khác phải kính nể. Đáng kể hơn nữa là tế
bào thần kinh với hình dạng kỳ dị, xung quanh thân
có rất nhiều tua dài vươn ra hệt như những cánh tay
6
Các loại hình dạng khác nhau của tế bào
đang cố với ra xa, tế bào thần kinh là những “người
khổng lồ” trong vương quốc tế bào.
Trong vương quốc tế bào, tế bào noãn, tế bào cơ
ngang và tế bào thần kinh mặc dù đều được mệnh danh
là những “người khổng lồ”, nhưng chức năng của chúng
lại hoàn toàn khác nhau. Các tế bào noãn là tế bào
sinh sản ra những thế hệ kế tiếp của nhân loại. Các tế
bào cơ ngang có thể thông qua sự co duỗi của mình
khiến cho xương cử động tạo nên sự vận động của cơ
thể. Các tế bào thần kinh với những tua dài của nó
có tác dụng điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể.
7
2
Tế bào có cấu tạo kỳ diệu
như thế nào?
Những tế bào nhỏ bé mà mắt thường chúng ta không
thể nhìn thấy được có cấu trúc phức tạp và tinh vi. Nhìn
qua kính hiển vi, chúng ta có thể thấy bề ngoài của tế
bào được bao bọc bởi một lớp màng cực mỏng, gọi là
màng tế bào. Trong màng tế bào có chứa một chất
dịch sánh có tính kết dính và trong suốt gọi là tế bào
chất. Giữa tế bào chất là nhân tế bào có cấu tạo hình
cầu. Tất cả mọi hoạt động sống của tế bào đều nhờ
vào màng tế bào, tế bào chất và nhân tế bào.
Màng tế bào là một lớp mô mỡ không màu do những
phân tử phospho và protein sắp xếp theo một thứ tự đặc
biệt tạo nên. Nó như một chiếc áo khoác xinh đẹp bao
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Màng tế bào
Tế bào chất
Thể golgi
Dịch nhân
Nhiễm sắc thể
Hạt nhân
Màng nhân
Mạng lưới nội chất
Ty thể
Lỗ nhân
Các ribosom trên
mạng lưới nội chất
Các ribosom tự do
Trung thể
Cấu tạo của tế bào cơ thể con nguời
dưới kính hiển vi điện tử
8
bọc phía ngoài tế bào. Do những phân tử phospholipid
và protein luôn ở trạng thái hoạt động, khiến “chiếc áo
khoác” của tế bào luôn có sức hấp dẫn kỳ lạ, nó có
thể phân biệt được những chất cần thiết chung quanh
tế bào, đồng thời dùng mọi cách để dẫn chúng vào
bên trong tế bào, hệt như đang đón tiếp những người
bạn quý vậy. Ngược lại, nó cũng phát hiện ra những
chất không cần thiết cho tế bào, ngăn cản “những vị
khách không mời mà đến” này xâm nhập vào “vương
quốc tế bào”. Vì vậy, trong sinh vật học, màng tế bào
là lớp màng có đặc tính chọn lọc các chất đi qua.
Tế bào chất là toàn bộ các chất nằm trong màng
tế bào, quanh nhân tế bào. Nó được cấu tạo chủ yếu
bởi chất dịch trong suốt không màu gọi là dịch tế bào
và vô số các bào quan có cấu trúc rất nhỏ bé nằm
trong đó. Các bào quan này không thể thấy rõ bằng
kính hiển vi thường mà chỉ có thể quan sát chúng
bằng kính hiển vi điện tử, các bào quan này có cấu
tạo và hình dạng khác nhau, chúng chiếm những vị trí
quan trọng nhất định trong tế bào chất và có những
chức năng độc đáo hoàn toàn không giống nhau, thế
nên các nhà khoa học cho chúng những cái tên khác
nhau, ví dụ: ty thể là nơi tế bào tiến hành hô hấp và
cung cấp năng lượng cho toàn bộ hoạt động sống của
tế bào. Tuy bé đến nỗi kính hiển vi cũng không thấy
rõ, nhưng chúng lại được mệnh danh là “xưởng động
lực” của tế bào. Ribosom là bào quan có kích thước
9
còn nhỏ hơn so với ty thể. Nó là nơi tế bào tổng hợp
chất protein. Ngoài ra còn có thể golgi, trung thể và
lưới nội chất, chúng cũng có một số chức năng quan
trọng riêng.
Việc tìm hiểu tế bào giúp chúng ta phát hiện ra
những khoảng trống nhỏ bé trong tế bào, chúng tạo
nên những khu vực chính xác và khoa học, hình thành
những cấu tạo bé nhỏ và khác thường, mỗi cái thực
hiện những chức năng độc đáo nhưng không hề lẫn
lộn hay gây trở ngại lẫn nhau, khiến cho hoạt động
sống cỉa tế bào hoàn chỉnh, phức tạp nhưng theo trật
tự nhất định. Sinh vật học gọi chúng là không bào.
Nhân tế bào nằm giữa tế bào là phần trung tâm của
tế bào. Bề mặt của nhân tế bào là một lớp màng có lỗ,
lớp màng này không những phân chia những chất trong
nhân tế bào với tế bào chất, mà còn có thể khiến chúng
tiến hành trao đổi chất với nhau. Trong nhân chứa đầy
dịch gọi là dịch nhân, trong dịch nhân có hạch nhân
và nhiễm sắc thể. Sở dĩ được gọi là nhiễm sắc thể
là vì nó thường có hình sợi mỏng và dễ bị nhuộm bởi
những chất có tính kiềm. Nó được cấu tạo bởi DNA(*) và
protein cùng các thành phần hóa học khác. Trong
đó DNA có liên quan chặt chẽ với tính di truyền của
người, bề mặt của chúng mang những thông tin, tín
hiệu truyền về tướng mạo, tính cách, thân thể và cả
DNA: deoxyribonucleic acid
10
một số bệnh di truyền của người đó. Giới sinh vật
học gọi những thông tin, tín hiệu này là “gien”. Vì thế
nhân tế bào là nơi tập trung gien liên quan đến tính
di truyền và biến dị.
3
Tế bào sinh sản như thế nào?
Tế bào - những thần dân trong vương quốc tế bào
- đều trải qua một quá trình sinh ra, lớn lên, sinh sản
và chết đi như tất cả các sinh vật của giới tự nhiên.
Những vẩy da rơi ra từ da của chúng ta chủ yếu là
những tế bào biểu bì đã chết. Do những tế bào biểu
bì thường “chết yểu”, nên trong cuộc đời của một con
người có khoảng 18 kg tế bào biểu bì chết đi. Tuổi
thọ của tế bào hồng huyết cầu là 120 ngày. Các tế
bào bạch cầu thật đáng thương, chúng chỉ sống được
vài tiếng đồng hồ. Các tế bào già yếu chết đi lại được
bổ sung bởi những tế bào mới được sinh ra với tốc độ
nhanh kinh người. Có người đã thống kê mỗi ngày một
người có hơn 1 tỷ tế bào chết đi và hơn 1 tỷ tế bào
mới sinh ra. Trong cơ thể của các cô cậu choai choai
đang lớn, mỗi ngày số tế bào sinh ra nhiều hơn số
tế bào chết đi, vì thế cơ thể mỗi ngày một phát triển.
Sự sản sinh tế bào mới rất lý thú, nó được tiến hành
bằng cách phân bào. Có ba cách phân bào trong tế
bào cơ thể con người: phân bào vô nhiễm, phân bào
nguyên nhiễm và phân bào giảm nhiễm. Phân bào vô
11
nhiễm là cách phân bào chia tế bào đơn giản nhất.
Quá trình phân chia của chúng bắt đầu bằng sự kéo
dài nhân tế bào, tiếp đó phần giữa của nhân lõm vào
bên trong, sau cùng tách ra thành hai nhân tế bào.
Hai tế bào hoàn chỉnh tách ra ở phần giữa, mỗi phần
đều có một nhân tế bào, như thế hình thành nên tế
bào mới. Gan và thận trong cơ thể con người cũng
dựa vào cách thức phân chia tế bào này để sản sinh
ra những tế bào mới.
Phân bào nguyên nhiễm là cách phân chia tế bào
thông thường. Quá trình phân chia của nó tương đối
phức tạp, có thể đơn giản phân thành hai giai đoạn.
1
6
2
5
3
4
Quá trình phân bào nguyên nhiễm của tế bào
1. Thời kỳ phân bào nguyên nhiễm gian kỳ
2. Kỳ đầu. 3. Kỳ giữa. 4, 5. Kỳ sau. 6. Kỳ cuối
12
Giai đoạn đầu được gọi là thời kỳ phân bào nguyên
nhiễm gian kỳ. Trong thời kỳ này, các chất trong tế
bào đặc biệt là các chất trong nhân tế bào có những
thay đổi rất phức tạp để chuẩn bị đầy đủ vật chất
nhằm tiến hành giai đoạn hai. Giai đoạn hai là thời
kỳ phân bào của quá trình phân bào nguyên nhiễm.
Thời kỳ này chủ yếu là nhiễm sắc thể trong tế bào
thay đổi liên tục theo một trình tự nhất định. Để tiện
cho việc nghiên cứu, các nhà khoa học đã chia toàn
bộ thời kỳ này thành các kỳ sau: kỳ đầu, kỳ giữa và
kỳ cuối. Kết thúc quá trình phân bào hình thành nên
hai tế bào con, sau khi tế bào con phát triển, mỗi tế
bào lại phân thành hai tế bào con khác, và cứ như
thế, sự phân chia cứ nối tiếp nhau, làm sản sinh thật
nhiều tế bào, đây chính là bí quyết để sản sinh ra tế
bào một cách nhanh chóng.
4
Bốn đại gia tộc của vương quốc
tế bào là những gia tộc nào?
Cơ thể con người sở dĩ được gọi là vương quốc tế
bào vì nó được cấu tạo bởi hơn 1 triệu tỷ tế bào. Nhưng
cơ thể con người tuyệt nhiên không phải là nơi chồng
chất hỗn loạn các tế bào, mà do bốn “gia tộc” tế bào
tuân theo một thứ tự nghiêm ngặt tạo thành các cơ
quan, các cơ quan này hợp lại thành các hệ thống lớn
và cuối cùng là được cấu tạo thành bởi bảy hệ thống
13
lớn là: hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu
hóa, hệ bài tiết, hệ thần kinh và hệ sinh sản.
Mỗi “gia tộc” tế bào đều có những đặc điểm sau:
số lượng tế bào nhiều, kích thước, độ dài bằng nhau,
đều do một chất giữa các tế bào (gọi là chất cách tế
bào) liên kết lại với nhau. Những đặc điểm này có thể
chứng minh rằng các “gia tộc” tế bào là một tập hợp
rất nhiều các tế bào có hình dạng, chức năng tương tự,
được liên kết lại bởi một chất cách tế bào chất. Sinh
vật học gọi chúng là mô. Bốn “gia tộc” tế bào trong
cơ thể người chính là bốn mô lớn: mô biểu bì, mô liên
kết, mô cơ và mô thần kinh.
“Gia tộc” lớn thứ nhất là mô biểu bì. Mô biểu bì bao
phủ toàn bộ mặt ngoài cơ thể và mặt trong các ống
và khoang trong cơ thể người. Các tế bào sắp xếp khít
chặt với nhau, chất tế bào rất ít. Đây là một gia tộc
tế bào lớn chức năng đoàn kết chống lại vi trùng xâm
nhập hay các vật bên ngoài gây tổn hại đến tế bào.
Mô biểu bì
14
“Gia tộc” thứ 2 là mô liên kết. Mô liên kết bao gồm
nhiều loại được phân bố rộng rãi trên cơ thể người. Ví
dụ như các tổ chức xương, tổ chức tuyến bã nhờn dưới
da, bắp thịt gồm gân và mạch máu v.v... đều thuộc mô
liên kết. Đặc điểm nổi bật của nó là sự phát triển của
chất cách tế bào. Đây là một “gia tộc” tế bào đa chức
năng như: duy trì, liên kết, bảo vệ và nuôi dưỡng...
Mô liên kết
“Gia tộc” thứ 3 là mô cơ. Đặc điểm của mô này là
mỗi tế bào đều có khả năng co duỗi gây sự vận động.
Người ta căn cứ vào độ co duỗi, hình dạng và sự phân
bố các tế bào để phân chúng thành ba loại: tế bào cơ
trơn, tế bào cơ xương và tế bào cơ tim.
Mô cơ
“Gia tộc” thứ 4 là mô thần kinh. Thành viên chủ yếu
của mô này là các tế bào thần kinh (hay còn gọi là
15
nơron thần kinh). Đặc điểm của các nơron thần kinh là
thu nhận kích thích, gây ra hưng phấn và dẫn truyền
hưng phấn. Đây là một “gia tộc” tế bào nhạy cảm, có
khả năng thông tin rất cừ khôi.
1. Thể tế bào
2. Nhân tế bào
3. Tua ngắn
4. Tua dài
5. Bao tủy
6. Đầu mút tua dài
Nơron thần kinh
5
Ai là người phát hiện ra tế bào?
Trong sự phát hiện ra tế bào phải kể đến việc chế
tạo ra kính hiển vi và sự tiến bộ của kỹ thuật nghiên
cứu khoa học. Người đầu tiên phát hiện ra tế bào không
phải là một nhà sinh vật học mà là nhà vật lý học
người Anh - ông Robert Hooke. Năm 1665, với chiếc
kính hiển vi tự chế tạo, ông đã quan sát và phát hiện
ở một cây non đã bị cắt ra thành những lát mỏng rất
nhiều những ngăn nhỏ hình tổ ong nằm sát nhau. Ông
gọi những ngăn nhỏ này là tế bào. Phát hiện của ông
đã tạo nên bước nhảy vọt mở ra một giai đoạn mới cho
những hiểu biết của con người đối với sinh vật. Vào cuối
16
thập niên 30 của thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã chỉ
ra rằng tất cả mọi động vật và thực vật đều do tế bào
cấu thành, vì thế tế bào chính là đơn vị cơ bản của sự
sống. Từ lúc tế bào được phát hiện ra đến học thuyết
tế bào tất cả là 174 năm nhưng việc nghiên cứu tế bào
mới chỉ nằm trong giai đoạn khởi đầu. Mấy chục năm
gần đây, sự phát triển của kính hiển vi khiến người ta
không khỏi ngạc nhiên. Ngày nay kính điện tử có độ
phóng đại từ 800.000 đến mấy triệu lần đã tiến thêm
một bước mở rộng tầm nhìn con người, tạo điều kiện
cho chúng ta ngao du vào thế giới vi mô.
Còn có một người Hà Lan tên là Leeuwenhoek. Cũng
với chiếc kính hiển vi tự tạo của mình, ông đã phát hiện
ra những sinh vật nhỏ bé mà mắt thường không thể
nhìn thấy được. Leeuwenhoek không phải là nhà vật
lý học cũng chẳng phải là nhà sinh vật học. Thuở nhỏ
Kính hiển vi của Robert Hooke và những lát mỏng cây non
được quan sát dưới kính hiển vi
17
gia đình nghèo khổ, 16 tuổi ông phải đến học nghề ở
một cửa tiệm thảm trải nền. Trong thời gian học nghề,
ông đã học được cách sử dụng và chế tạo những chiếc
kính phóng đại. Sau khi mãn hạn học nghề, 22 tuổi,
ông trở về quê hương, làm một chân thư ký trong tòa
thị chính, cuối cùng ông đã mài được hai thấu kính lý
tưởng. Đem hai thấu kính này gắn cố định trên một cái
gọng kim loại, rồi lại lắp thêm một cái cán điều chỉnh
hình xoắn ốc, ông đã chế tạo ra một chiếc kính hiển
vi rất đơn giản có độ phóng đại gần 300 lần. Với chiếc
kính hiển vi rất đơn giản đó, Leeuwenhoek đã nhìn
thấy rất nhiều sinh vật mà vào thời đó khiến người ta
kinh ngạc. Năm 1669, ông đã viết một bản báo cáo gởi
đến Hội khoa học Hoàng gia Anh. Bản báo cáo trình
bày việc ông đã dùng một chậu hoa mới đựng nước
mưa, sau bốn ngày ông phát hiện trong nước có vô
số động vật nguyên sinh, nếu thêm vào nước đó một
Leeuwenhoek đang quan sát kính hiển vi
18
Kính hiển vi đơn giản do Leeuwenhoek chế tạo
giọt rau nghiền, có thể còn nhìn thấy nhiều loại động
vật nguyên sinh hơn nữa. Tiếp đó ông còn phát hiện
ra vi trùng, tế bào máu người v.v... Ông đã tiến hành
một thí nghiệm rất đơn giản. Quan sát một mẩu bựa
răng lấy ra từ khoang miệng của một ông lão không
đánh răng, ông đã phát hiện ra hàng loạt vi sinh vật
hình dạng không hề giống nhau.
Việc Leeuwenhoek phát hiện ra thế giới vi sinh vật,
không những có tác động to lớn đến sự phát triển y
học mà còn khiến người ta tin chắc rằng trong phạm
vi khả năng mắt thường không thấy được tồn tại vô
số vi sinh vật.
19
Chương 2
CHIẾC ÁO KHOÁC
NHIỀU CÔNG DỤNG
Nói đến chiếc áo khoác, chúng ta nghĩ ngay đến
chiếc áo lông ấm áp mặc mùa đông hay chiếc áo khoác
nhẹ mùa hè. Nhưng mà chẳng có cái nào trong số
chúng bì kịp với bộ da - “chiếc áo khoác ngoài” - của
cơ thể. Da bao bọc mặt ngoài của cơ thể, ngoài chức
năng bảo vệ mà mọi người đều biết ra, da còn có các
chức năng khác như bài tiết, điều hòa nhiệt độ cơ thể
và cảm nhận những kích thích từ bên ngoài như nóng,
lạnh, sự đụng chạm và cảm giác đau đớn. Chính vì
“siêu” như vậy nên da là bộ áo khoác lý tưởng nhiều
công dụng của cơ thể con người.
6
Phòng tuyến “da” được cấu tạo như
thế nào?
Việc bộ da có thể thi hành nhiều chức năng có liên
quan mật thiết đến cấu tạo của chúng.
Cấu tạo của da: lớp ngoài cùng của da do nhiều lớp
20
tế bào tạo thành gọi là biểu bì. Những lớp tế bào ngoài
cùng của biểu bì bị sừng hóa, chúng liên kết chặt chẽ
với nhau và có tính đàn hồi. Chúng giống như một hàng
rào che chắn, có thể ngăn chặn vi trùng xâm nhập vào
cơ thể con người, ngoài tác dụng ngăn ngừa và bảo vệ,
chúng còn có thể phòng chặn sự thoát hơi nước từ cơ thể.
Dưới lớp biểu bì là chân bì tức da trong, so với lớp
biểu bì thì nó dày hơn nhiều. Lớp chân bì do mô liên
kết cấu tạo thành, trong có vô số các sợi dây dẻo
và sợi đàn hồi, khiến lớp chân bì này giống như một
tấm nệm cao su dày có tính dẻo dai, có thể chống lại
được các tổn thương có tính phá vỡ và chịu đựng được
những tác động nhất định của ngoại cảnh. Ở lớp chân
bì này còn có mạng lưới thông tin cao cấp để truyền
đạt những thông tin từ bên ngoài vào bên trong cơ thể
và những mạch máu nhằm vận chuyển khí oxy và chất
dinh dưỡng đến cho tế bào. Ngoài ra nó còn có tuyến
bã nhờn để tiết chất nhờn, tuyến mồ hôi để tiết ra mồ
hôi và những chân lông.
Cấu trúc của da
1. Biểu bì
2. Chân bì (da trong)
3. Tổ chức dưới da
4. Mạch máu
5. Tuyến bã nhờn
6. Đầu mút dây thần kinh
7. Cơ quan cảm thụ
8. Lớp mỡ dưới da
9. Tuyến mồ hôi
21
7
Tại sao da được coi là chiếc ô
che nắng?
Những người làm việc ngoài
trời mùa hè làn da thường bị
sạm nắng. Có người sợ đen
da đã thoa lên mình kem
chống nắng. Thật ra, chính
làn da đen bóng của những
người làm việc ngoài trời đã
tạo nên một lớp bảo vệ cho cơ
thể. Giống như chiếc ô che nắng
cho cơ thể con người, nó hấp thụ
những tia tử ngoại có thể xuyên qua
da và giết chết những tế bào
đồng thời ngăn chặn sự tổn
thương do tia này gây ra đối
với những tế bào trong cơ thể.
Chiếc “ô che nắng” này đã được giương lên như
thế nào? Nguyên do là trong lớp tế bào tận cùng của
biểu bì có một số ít những tế bào sắc tố. Thường màu
sắc đậm nhạt của da chúng ta được quyết định bởi số
lượng của những tế bào hắc tố này. Vậy là chiếc ô che
nắng được giương lên do bởi chính làn da bên ngoài
dần dần chuyển thành màu đen bóng.
22
8
Những trạm ra đa bé nhỏ của da
có chức năng gì?
Bên trong lớp chân bì còn có rất
nhiều thể nhỏ có cấu tạo riêng
đặc biệt, nằm ở bên trong, bí
mật tiếp nhận những thông
tin ở bên ngoài cơ thể như
nóng lạnh, sự va chạm, đau
đớn v.v... Bất kể là dao cứa
hay bị côn trùng cắn, những thông
tin này nhờ vào những “liên lạc” là tế
bào thần kinh đều được truyền đến “bộ tổng
tư lệnh” - đại não - một cách chính xác. Đại não lại
phát ra những mệnh lệnh để xử lý thông tin. Những thể
nhỏ “mai phục” trong lớp chân bì này có chức năng
như một trạm ra đa được thiết lập trên mạng lưới quốc
phòng. Những trạm ra đa này trong sinh vật học gọi là
những cơ quan cảm thụ. Trong lớp chân bì, hầu như
chỗ nào cũng có những cơ quan cảm thụ. Có người
thống kê rằng, trong tổng diện tích da 1,75 m2 có đến
2.400.000 cơ quan này. Có thể dựa vào cấu tạo và
chức năng khác nhau để phân chúng ra làm bốn loại:
cơ quan cảm thụ xúc giác, cơ quan cảm thụ lạnh, cơ
quan cảm thụ nóng và cơ quan cảm thụ sự đau đớn.
Số lượng đông đảo những cơ quan cảm thụ này lại
không phân bố đồng đều trong da mà tập trung theo
23
vùng, hơn nữa mật độ phân bổ cũng không giống nhau.
Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau của
những vùng da khác nhau trên cơ thể. Ví dụ như độ
nhạy cảm ở đầu ngón tay cao hơn nhiều so với độ
nhạy cảm ở lưng. Xét cho cùng thì các cơ quan cảm
thụ có những đặc điểm gì?
Cơ quan cảm thụ xúc giác: chúng ta gọi chúng là
những trạm ra đa xúc giác nhé! Chúng chuyên tiếp thu
những kích thích cơ giới như sự đụng chạm và chèn
ép, thông qua hàng loạt hệ thống thần kinh truyền về
đại não, gây nên xúc giác. Thông qua xúc giác, người
ta có thể nhận biết được những đặc tính vật lý của sự
vật như hình dạng, kích thước, độ cứng, độ nhẵn bóng
hay thô ráp v.v... Đối với những người mù, xúc giác
càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Cơ quan cảm thụ dưới da
24
Cơ quan cảm thụ nóng, lạnh là những trạm ra đa
nhận biết được sự thay đổi về nhiệt lượng dưới da. Cơ
quan cảm thụ lạnh chuyên thu nhận những thay đổi
về việc mất đi nhiệt lượng trong một khoảng thời gian
ngắn. Ngược lại, cơ quan cảm thụ nóng nhận biết những
thay đổi về việc thu nhận nhiệt lượng trong thời gian
ngắn. Bạn có những cảm nhận như vậy trong cuộc
sống hằng ngày không? Để tay chạm vào một miếng
sắt và một miếng gỗ cùng ở nhiệt độ khoảng 100C,
bạn sẽ cảm thấy miếng sắt lạnh hơn miếng gỗ nhiều.
Đó là vì miếng sắt truyền nhiệt nhanh hơn miếng gỗ,
trong thời gian ngắn nó có thể lấy đi rất nhanh nhiệt
lượng từ da của bạn. Cho nên bạn sẽ cảm thấy miếng
sắt lạnh hơn miếng gỗ mặc dù chúng ở cùng nhiệt độ.
Cơ quan cảm thụ đau đớn là những trạm ra đa
chuyên thu nhận những tổn thương dưới da như điện,
cơ giới, quá lạnh hay quá nóng, những vật chất hóa
học v.v... đều có thể dẫn đến đau đớn. Cảm giác đau
có tác dụng bảo vệ đối với người, nó có thể thúc đẩy
gây ra những kích thích có tính tránh đỡ những tổn
thương từ cơ thể con người.
Số lượng nhiều những trạm ra đa bé nhỏ - những
cơ quan cảm thụ dưới da - đã truyền đạt chuẩn xác,
nhanh chóng những thông tin cảm giác đa dạng về não,
từ đó đại não mới có thể điều kiển chính xác những
sinh hoạt bình thường của cơ thể người.
25
9
Tại sao người ta gọi da là bộ máy
điều hòa nhiệt độ cao cấp?
Nhiệt độ trung bình của cơ thể con người là một
trong những điều kiện quan trọng nhằm duy trì một
quá trình sinh lý bình thường. Nhiệt độ trung bình của
cơ thể con người luôn giữ ở khoảng 370C. Nếu nhiệt
độ tăng quá 410C hay xuống đến 250C thì sinh mạng
con người sẽ bị đe dọa.
Nhiệt độ của cơ thể con người có thể giữ ở mức tương
đối ổn định chính là nhờ sự điều tiết của hệ thần kinh
thông qua các mạch máu và tuyến mồ hôi. Cơ thể con
người trong môi trường nhiệt độ thấp, phần lớn những
mạch máu dưới da đều bị co lại, những mạch máu nhỏ
thu hẹp khiến lưu lượng máu giảm, nhiệt lượng do máu
đem đến cũng giảm. Lúc này nhiệt độ của da thấp làm
cho nhiệt lượng do da trực tiếp tỏa ra cũng giảm. Mặt
khác, do tuyến mồ hôi hoạt động yếu trong môi trường
nhiệt độ thấp, thậm chí không tiết ra mồ hôi cũng ngăn
ngừa sự tiêu hao nhiệt lượng của cơ thể con người
thông qua sự bốc hơi mồ hôi. Điều này cũng khiến
cho cơ thể con người có thể giữ được nhiệt độ trung
bình trong môi trường nhiệt độ bên ngoài xuống thấp.
Cơ thể con người trong môi trường nhiệt độ cao thì
phần lớn các mạch máu dưới da giãn rộng, những mạch
máu nhỏ nở ra làm tăng lưu lượng máu, nhiệt lượng do
cơ thể sản sinh ra được máu đem đến da, khiến nhiệt
26
độ của da tăng lên, nhiệt lượng da tỏa ra cũng tăng
theo. Đồng thời sự gia tăng hoạt động của tuyến mồ
hôi làm cho mồ hôi được tiết ra nhiều hơn, sự bốc hơi
nước từ da làm tiêu hao phần lớn nhiệt lượng của cơ
thể. Chính vì thế mặc dù con người ở trong môi trường
nhiệt độ cao, cơ thể vẫn giữ được nhiệt độ ở mức bình
thường không bị tăng lên.
10
Làm thế nào để bảo vệ “chiếc áo
khoác” của chúng ta?
Bộ da là chiếc áo khoác ngoài nhiều công dụng của
cơ thể con người, nó bao phủ toàn bộ cơ thể của chúng
ta với một diện tích khá lớn khoảng 1,6 m2. Do bộ da
không chỉ có thể đề phòng sự tấn công xâm nhập của
những vi trùng bên ngoài mà còn có tác dụng cảm giác
và điều hòa nhiệt độ cho cơ thể, vì thế, chúng ta cần
chú ý bảo vệ nó.
Làm thế nào để bảo vệ làn da của bạn? Nói chung
ta phải chú ý đến ba nguyên tắc:
1. Giữ vệ sinh da.
2. Tiến hành rèn luyện cho da.
3. Phòng ngừa những tổn thương cho da.
Muốn giữ gìn vệ sinh cho da phải thường xuyên tắm
rửa kỳ cọ thân thể. Tắm rửa có thể loại đi những bụi
bặm, đất bẩn, những vi sinh vật và cả những tế bào da
27
đã chết (vảy da) bám trên bề mặt của da và lỗ chân
lông. Theo một thống kê cho biết mỗi một lần tắm
rửa, người ta có thể làm sạch da và loại đi từ 20 triệu
đến 1 tỷ con vi trùng các loại. Sau khi tắm rửa, tuy là
trên da vẫn còn những con vi trùng, nhưng vì một số
lượng lớn vi trùng đã bị loại bỏ nên làm chậm tốc độ
sinh sản của chúng. Năng tắm rửa và kỳ cọ thân thể
còn có tác dụng xoa bóp làm ấm da.
Chịu khó thay quần áo cũng là một biện pháp quan
trọng trong việc giữ gìn vệ sinh cho da. Quần áo vốn
có tác dụng bảo vệ thân thể, song nếu trong một thời
gian dài không được thay, trên quần áo sẽ tích tụ nhiều
vết dơ có thể gây ra kích thích và nhiễm trùng da.
Tiến hành rèn luyện cho da chủ yếu có ba cách:
tắm nước lạnh, tắm không khí và tắm nắng. Ba kỹ thuật
tắm cho da ở trên vừa không mấy tốn kém, tiện lợi lại
phổ biến, chỉ cần kiên trì là có thể rèn luyện cho da.
Tắm nước lạnh hay việc dùng nước lạnh để kỳ cọ
thân thể không những có thể tăng cường sức đề kháng
của cơ thể đối với giá lạnh, phòng ngừa trúng gió, cảm
lạnh mà còn có thể khiến cho người ta cảm thấy phấn
chấn và ăn ngon miệng. Việc tắm nước lạnh nên thực
hiện tăng dần, nên bắt đầu vào mùa hè, kiên nhẫn
thực hiện, thời gian tốt nhất là vào sáng sớm và buổi
tối mỗi ngày. Nếu có điều kiện thuận lợi có thể tắm
thay đổi, xối nước lạnh với nước ấm để rèn luyện tính
co giãn của những mạch máu dưới da, tăng cường
28
tính thích ứng của da đối với những thay đổi nhiệt độ
không khí bên ngoài.
Tắm không khí có nghĩa là phơi da ra ngoài không
khí. Do không khí cũng có kích thích da nên việc tắm
không khí, nhất là vào mùa đông có thể tăng cường
tính thích ứng và sức đề kháng của da.
Tắm nắng tức là phơi trần da ra ngoài nắng. Thực
hiện việc tắm nắng có tác dụng tổng hợp tia tử ngoại
và những tia khác trong ánh nắng mặt trời, làm gia
tăng sự tuần hoàn máu, cung cấp đầy đủ máu cho
da. Do đó sự gia tăng lượng máu cung cấp cho da có
thể thúc đẩy việc thực hiện những hoạt động sinh lý
bình thường trong cơ thể con người, làm tăng cường
sức đề kháng. Ngoài ra, tia tử ngoại không chỉ có thể
giết chết những vi trùng bám trên da, mà còn có thể
biến đổi một chất là ergosterol (tiền sinh tố D) trong
da thành sinh tố D. Sinh tố D có tác dụng thúc đẩy
cơ thể con người hấp thu và sử dụng các chất calci,
phốt pho, phòng bệnh còi xương.
Để tránh làm tổn thương da, hằng ngày chúng ta
không nên trực tiếp tiếp xúc với những chất kích thích
như chất xút tương đối mạnh, chất kiềm và những chất
dược phẩm có tính bào mòn..., tránh bị phỏng, bị cóng,
bị trầy xước da, tránh tiếp xúc với những người có bệnh
da liễu dễ lây bệnh, chăm rửa tay, thường xuyên cắt
móng tay, tránh thói quen cào gãi da.
29
Chương 3
CÁI GIÁ ĐỠ DIỆU KỲ
Các tòa nhà chọc trời đều được chống đỡ bởi cốt
thép mới có thể đứng vững vàng trên mặt đất, hiên
ngang vươn cao đến vậy. Vì thế, tiếng tăm về độ vững
chắc của bê tông cốt thép đã vượt xa khỏi phạm vi
của nó. Thế nhưng thế giới của chúng ta vẫn còn một
loại giá đỡ không cần đến cốt thép, không cần xi măng
mà vẫn bền vững đến thần kỳ, đó chính là bộ xương
của cơ thể con người. Tuy bộ xương chỉ gánh vác một
cơ thể nhưng cấu tạo phức tạp và khả năng chống đỡ
của nó thì cốt thép cũng phải kiêng nể, không thể sánh
kịp. Cốt thép chẳng qua là những cây thép hình trụ trụi
nhẵn, còn bộ xương thì do 206 miếng với hình dạng,
kích thước khác nhau “bắt” vào nhau một cách phức
tạp để cấu tạo thành một kết cấu hoàn chỉnh.
Căn cứ vào vị trí của các bộ phận trên cơ thể, xương
chia làm xương đầu, xương mình và xương tứ chi. Xương
đầu do 29 miếng xương kết thành giá đỡ hình cầu, bảo
vệ bộ não ở bên trong. Xương mình tổng cộng có 51
miếng, trong đó 26 đốt xương sống, 12 đôi xương sườn
và một miếng xương ngực tạo thành cột xương sống.
30
2. Xương cằm
3. Xương khóa
4. Xương bả vai
5. Xương ngực
6. Xương sườn
7. Xương cánh tay 8. Xương
sống
9. Xương trụ
10. Xương cánh tay
11. Xương chậu
12. Xương cổ tay
13. Xương bàn tay 1 4 .
Xương ngón tay
1 5 .
Xương đùi
16. Xương bánh chè 1 7 .
Xương chày
18. Xương ống quyển
19. Xương cổ chân 2 0 .
Xương bàn chân
2 1 .
Xương ngón chân
Bộ xương của con người (mặt trước)
1. Xương trán
31
Các bộ phận cột sống, xương sườn, xương lồng ngực
vây thành một cái lồng xương gọi là xương lồng ngực.
Lồng ngực bảo vệ tim, phổi và các cơ quan quan trọng
bên trong nó. Xương tứ chi do 126 khúc xương tạo
thành. Xương chậu của chi dưới và phần dưới của cột
sống cuộn lại thành kết cấu hình chậu. Trong xương
chậu chứa nhiều bộ phận nội tạng. Phần vai của xương
chi trên có thể chuyển động một góc 3600. Xương chi
dưới có thể di chuyển, quỳ gối và nhảy nhót, gánh vác
trọng lượng của toàn thân.
Bộ xương của con người được cấu tạo mang tính
phức tạp, khoa học, đa công năng, đây là một kết cấu
mà các nhà kiến trúc sư khó mà thiết kế được. Chính
vì kết cấu của xương phức tạp, có chức năng gánh
vác đáng nể đó mà các nhà khoa học đã phân tích và
thấy rằng trọng lượng xương của người trưởng thành
chỉ chiếm 1/5 trọng lượng cơ thể, ấy vậy mà nó có thể
nâng đỡ trọng lượng gấp trăm lần, ngàn lần. Xét trên
phương diện kết cấu và chức năng, bộ xương người
xứng đáng là một loại giá đỡ thần kỳ của thiên nhiên.
11
Xương cứng chắc như thế nào?
Trong thế giới tự nhiên, đá kim cương là cứng nhất,
bền nhất chắc nhất. Nhưng qua khảo sát của các nhà
khoa học, họ phát hiện ra rằng, trên mỗi cm2 diện tích
của miếng xương có thể chịu được áp lực 2100 kg, mỗi
32
cm2 đá kim cương chịu được áp lực 1350 kg, mỗi cm2
gỗ chịu áp lực 454 kg, kết quả là xương giành được
chức vô địch về bền dai, đá kim cương chiếm vị trí á
quân, đứng hàng thứ ba là gỗ.
Thành phần của xương
1. Màng xương
2, 3, 4. Ống tủy
5. Tủy
6. Huyết quản
Tại sao xương lại cứng hơn đá kim cương được?
Điều kỳ diệu là ở chỗ kết cấu của xương. Quan sát
kết cấu của một khúc xương dài, nó do màng xương,
chất xương và ...
Hãy trả lời em tại sao?. T.8 / Lê Thị Kim Ngân, Phạm Hồng Hải, Kim Dân d.
- T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
186tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Lê Thị Kim Ngân, Phạm Hồng Hải, Kim Dân d.
001 -- dc 22
H412
Lê Thị Kim Ngân - Phạm Hồng Hải - Kim Dân dịch
hãy trả lời em tại sao?
tập 8
Đồng Bảo Hoa - Vương Tú Cầm - Triệu Thế Anh
Lê Thị Kim Ngân - Phạm Hồng Hải - Kim Dân dịch
Chịu trách nhiệm xuất bản:
ts. quách thu nguyệt
Biên tập:
trí CÔNG - thu nhi
Xử lý bìa:
bùi nam
Sửa bản in:
trí vũ - thu nhi
Kĩ thuật vi tính:
vũ phượng
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161B Lý Chính Thắng - Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT: 39316289 - 39316211 - 38465595 - 38465596 - 39350973
Fax: 84.8.38437450 - E-mail: nxbtre@ hcm.vnn.vn
Website: http://www.nxbtre.com.vn
Chi nhánh nhà xuất bản trẻ tại Hà Nội
20 ngõ 91, Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa - Hà Nội
ĐT & Fax: (04) 37734544
E-mail: vanphongnxbtre@ hn.vnn.vn
4
Chương 1
Cơ thể con người
là vương quốc tế bào
Trong thế giới động vật phong phú đa dạng và tràn
đầy sức sống, con người là sinh vật cao cấp nhất. Con
người có đại não phát triển, có ngôn ngữ và chữ viết.
Con người có khả năng tư duy trừu tượng, khái quát,
suy xét, lý luận,... Con người có thể nhận thức sâu sắc
về tự nhiên và xã hội, phát hiện và nắm bắt được luôn
các quy luật của nó, rồi còn vận dụng vào việc cải tạo
tự nhiên và xã hội. Chính vì vậy con người là chúa tể
của muôn loài. Nếu len lén nhìn vào thế giới vi mô
của con người qua kính hiển vi, đó hẳn là một thế giới
đặc sắc và “hoành tráng” khiến người ta không khỏi
ngạc nhiên. Trong thế giới vi mô, cơ thể con người trở
nên to lớn đến nỗi trong chốc lát khó có thể thấy hết
được. Từng bộ phận của cái vật to lớn này đều được
rất nhiều tế bào nhỏ tạo thành. Đã có người thống kê
được cơ thể của một người đàn ông có tầm vóc trung
bình do 18x1014 tế bào tạo thành. Sau con số 18 này
phải viết thêm 14 số không nữa, có nghĩa là 1.800.000
tỷ tế bào. Con số đáng kinh ngạc này đủ chứng minh
rằng cơ thể con người là một vương quốc tế bào.
5
1
Tại sao có chàng tí hon và người
khổng lồ trong vương quốc tế bào?
Tế bào - những thần dân của vương quốc tế bào vô cùng bé nhỏ, mắt thường chúng ta không thể nhìn
thấy được, nhưng dưới kính hiển vi thì có thể thấy rõ
ràng. Chúng có đến trăm ngàn dáng vẻ, kích thước
không bằng nhau. Đường kính của một tế bào tuyến
hạch limpho trong cơ thể con người chỉ có 6µm (micromet - một µm bằng một phần ngàn mm), thật quá
bé nhỏ. Vì thế trong vương quốc tế bào, tế bào tuyến
hạch limpho trở thành “chàng tí hon”. Chớ xem thường
những “chàng tí hon” này vì chúng có khả năng tiêu diệt
“địch” dữ dội lắm đấy. Khi vi trùng xâm nhập vào cơ
thể con người, tức vương quốc tế bào, những “chàng tí
hon” liền sản xuất ra một chất hóa học đặc biệt - kháng
thể - rồi lợi dụng thứ vũ khí hóa học này để kháng cự,
tiêu diệt những kẻ xâm nhập và tăng cường khả năng
đề kháng cho cơ thể con người.
Trong vương quốc tế bào, những tế bào noãn có
đường kính 200µm, vì thế những tế bào noãn là những
“người khổng lồ” to béo nhất của vương quốc tế bào.
Những tế bào cơ xương có “thân hình” thon dài khoảng
30-40µm, trở thành “người khổng lồ” dài mảnh khiến
các tế bào khác phải kính nể. Đáng kể hơn nữa là tế
bào thần kinh với hình dạng kỳ dị, xung quanh thân
có rất nhiều tua dài vươn ra hệt như những cánh tay
6
Các loại hình dạng khác nhau của tế bào
đang cố với ra xa, tế bào thần kinh là những “người
khổng lồ” trong vương quốc tế bào.
Trong vương quốc tế bào, tế bào noãn, tế bào cơ
ngang và tế bào thần kinh mặc dù đều được mệnh danh
là những “người khổng lồ”, nhưng chức năng của chúng
lại hoàn toàn khác nhau. Các tế bào noãn là tế bào
sinh sản ra những thế hệ kế tiếp của nhân loại. Các tế
bào cơ ngang có thể thông qua sự co duỗi của mình
khiến cho xương cử động tạo nên sự vận động của cơ
thể. Các tế bào thần kinh với những tua dài của nó
có tác dụng điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể.
7
2
Tế bào có cấu tạo kỳ diệu
như thế nào?
Những tế bào nhỏ bé mà mắt thường chúng ta không
thể nhìn thấy được có cấu trúc phức tạp và tinh vi. Nhìn
qua kính hiển vi, chúng ta có thể thấy bề ngoài của tế
bào được bao bọc bởi một lớp màng cực mỏng, gọi là
màng tế bào. Trong màng tế bào có chứa một chất
dịch sánh có tính kết dính và trong suốt gọi là tế bào
chất. Giữa tế bào chất là nhân tế bào có cấu tạo hình
cầu. Tất cả mọi hoạt động sống của tế bào đều nhờ
vào màng tế bào, tế bào chất và nhân tế bào.
Màng tế bào là một lớp mô mỡ không màu do những
phân tử phospho và protein sắp xếp theo một thứ tự đặc
biệt tạo nên. Nó như một chiếc áo khoác xinh đẹp bao
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Màng tế bào
Tế bào chất
Thể golgi
Dịch nhân
Nhiễm sắc thể
Hạt nhân
Màng nhân
Mạng lưới nội chất
Ty thể
Lỗ nhân
Các ribosom trên
mạng lưới nội chất
Các ribosom tự do
Trung thể
Cấu tạo của tế bào cơ thể con nguời
dưới kính hiển vi điện tử
8
bọc phía ngoài tế bào. Do những phân tử phospholipid
và protein luôn ở trạng thái hoạt động, khiến “chiếc áo
khoác” của tế bào luôn có sức hấp dẫn kỳ lạ, nó có
thể phân biệt được những chất cần thiết chung quanh
tế bào, đồng thời dùng mọi cách để dẫn chúng vào
bên trong tế bào, hệt như đang đón tiếp những người
bạn quý vậy. Ngược lại, nó cũng phát hiện ra những
chất không cần thiết cho tế bào, ngăn cản “những vị
khách không mời mà đến” này xâm nhập vào “vương
quốc tế bào”. Vì vậy, trong sinh vật học, màng tế bào
là lớp màng có đặc tính chọn lọc các chất đi qua.
Tế bào chất là toàn bộ các chất nằm trong màng
tế bào, quanh nhân tế bào. Nó được cấu tạo chủ yếu
bởi chất dịch trong suốt không màu gọi là dịch tế bào
và vô số các bào quan có cấu trúc rất nhỏ bé nằm
trong đó. Các bào quan này không thể thấy rõ bằng
kính hiển vi thường mà chỉ có thể quan sát chúng
bằng kính hiển vi điện tử, các bào quan này có cấu
tạo và hình dạng khác nhau, chúng chiếm những vị trí
quan trọng nhất định trong tế bào chất và có những
chức năng độc đáo hoàn toàn không giống nhau, thế
nên các nhà khoa học cho chúng những cái tên khác
nhau, ví dụ: ty thể là nơi tế bào tiến hành hô hấp và
cung cấp năng lượng cho toàn bộ hoạt động sống của
tế bào. Tuy bé đến nỗi kính hiển vi cũng không thấy
rõ, nhưng chúng lại được mệnh danh là “xưởng động
lực” của tế bào. Ribosom là bào quan có kích thước
9
còn nhỏ hơn so với ty thể. Nó là nơi tế bào tổng hợp
chất protein. Ngoài ra còn có thể golgi, trung thể và
lưới nội chất, chúng cũng có một số chức năng quan
trọng riêng.
Việc tìm hiểu tế bào giúp chúng ta phát hiện ra
những khoảng trống nhỏ bé trong tế bào, chúng tạo
nên những khu vực chính xác và khoa học, hình thành
những cấu tạo bé nhỏ và khác thường, mỗi cái thực
hiện những chức năng độc đáo nhưng không hề lẫn
lộn hay gây trở ngại lẫn nhau, khiến cho hoạt động
sống cỉa tế bào hoàn chỉnh, phức tạp nhưng theo trật
tự nhất định. Sinh vật học gọi chúng là không bào.
Nhân tế bào nằm giữa tế bào là phần trung tâm của
tế bào. Bề mặt của nhân tế bào là một lớp màng có lỗ,
lớp màng này không những phân chia những chất trong
nhân tế bào với tế bào chất, mà còn có thể khiến chúng
tiến hành trao đổi chất với nhau. Trong nhân chứa đầy
dịch gọi là dịch nhân, trong dịch nhân có hạch nhân
và nhiễm sắc thể. Sở dĩ được gọi là nhiễm sắc thể
là vì nó thường có hình sợi mỏng và dễ bị nhuộm bởi
những chất có tính kiềm. Nó được cấu tạo bởi DNA(*) và
protein cùng các thành phần hóa học khác. Trong
đó DNA có liên quan chặt chẽ với tính di truyền của
người, bề mặt của chúng mang những thông tin, tín
hiệu truyền về tướng mạo, tính cách, thân thể và cả
DNA: deoxyribonucleic acid
10
một số bệnh di truyền của người đó. Giới sinh vật
học gọi những thông tin, tín hiệu này là “gien”. Vì thế
nhân tế bào là nơi tập trung gien liên quan đến tính
di truyền và biến dị.
3
Tế bào sinh sản như thế nào?
Tế bào - những thần dân trong vương quốc tế bào
- đều trải qua một quá trình sinh ra, lớn lên, sinh sản
và chết đi như tất cả các sinh vật của giới tự nhiên.
Những vẩy da rơi ra từ da của chúng ta chủ yếu là
những tế bào biểu bì đã chết. Do những tế bào biểu
bì thường “chết yểu”, nên trong cuộc đời của một con
người có khoảng 18 kg tế bào biểu bì chết đi. Tuổi
thọ của tế bào hồng huyết cầu là 120 ngày. Các tế
bào bạch cầu thật đáng thương, chúng chỉ sống được
vài tiếng đồng hồ. Các tế bào già yếu chết đi lại được
bổ sung bởi những tế bào mới được sinh ra với tốc độ
nhanh kinh người. Có người đã thống kê mỗi ngày một
người có hơn 1 tỷ tế bào chết đi và hơn 1 tỷ tế bào
mới sinh ra. Trong cơ thể của các cô cậu choai choai
đang lớn, mỗi ngày số tế bào sinh ra nhiều hơn số
tế bào chết đi, vì thế cơ thể mỗi ngày một phát triển.
Sự sản sinh tế bào mới rất lý thú, nó được tiến hành
bằng cách phân bào. Có ba cách phân bào trong tế
bào cơ thể con người: phân bào vô nhiễm, phân bào
nguyên nhiễm và phân bào giảm nhiễm. Phân bào vô
11
nhiễm là cách phân bào chia tế bào đơn giản nhất.
Quá trình phân chia của chúng bắt đầu bằng sự kéo
dài nhân tế bào, tiếp đó phần giữa của nhân lõm vào
bên trong, sau cùng tách ra thành hai nhân tế bào.
Hai tế bào hoàn chỉnh tách ra ở phần giữa, mỗi phần
đều có một nhân tế bào, như thế hình thành nên tế
bào mới. Gan và thận trong cơ thể con người cũng
dựa vào cách thức phân chia tế bào này để sản sinh
ra những tế bào mới.
Phân bào nguyên nhiễm là cách phân chia tế bào
thông thường. Quá trình phân chia của nó tương đối
phức tạp, có thể đơn giản phân thành hai giai đoạn.
1
6
2
5
3
4
Quá trình phân bào nguyên nhiễm của tế bào
1. Thời kỳ phân bào nguyên nhiễm gian kỳ
2. Kỳ đầu. 3. Kỳ giữa. 4, 5. Kỳ sau. 6. Kỳ cuối
12
Giai đoạn đầu được gọi là thời kỳ phân bào nguyên
nhiễm gian kỳ. Trong thời kỳ này, các chất trong tế
bào đặc biệt là các chất trong nhân tế bào có những
thay đổi rất phức tạp để chuẩn bị đầy đủ vật chất
nhằm tiến hành giai đoạn hai. Giai đoạn hai là thời
kỳ phân bào của quá trình phân bào nguyên nhiễm.
Thời kỳ này chủ yếu là nhiễm sắc thể trong tế bào
thay đổi liên tục theo một trình tự nhất định. Để tiện
cho việc nghiên cứu, các nhà khoa học đã chia toàn
bộ thời kỳ này thành các kỳ sau: kỳ đầu, kỳ giữa và
kỳ cuối. Kết thúc quá trình phân bào hình thành nên
hai tế bào con, sau khi tế bào con phát triển, mỗi tế
bào lại phân thành hai tế bào con khác, và cứ như
thế, sự phân chia cứ nối tiếp nhau, làm sản sinh thật
nhiều tế bào, đây chính là bí quyết để sản sinh ra tế
bào một cách nhanh chóng.
4
Bốn đại gia tộc của vương quốc
tế bào là những gia tộc nào?
Cơ thể con người sở dĩ được gọi là vương quốc tế
bào vì nó được cấu tạo bởi hơn 1 triệu tỷ tế bào. Nhưng
cơ thể con người tuyệt nhiên không phải là nơi chồng
chất hỗn loạn các tế bào, mà do bốn “gia tộc” tế bào
tuân theo một thứ tự nghiêm ngặt tạo thành các cơ
quan, các cơ quan này hợp lại thành các hệ thống lớn
và cuối cùng là được cấu tạo thành bởi bảy hệ thống
13
lớn là: hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu
hóa, hệ bài tiết, hệ thần kinh và hệ sinh sản.
Mỗi “gia tộc” tế bào đều có những đặc điểm sau:
số lượng tế bào nhiều, kích thước, độ dài bằng nhau,
đều do một chất giữa các tế bào (gọi là chất cách tế
bào) liên kết lại với nhau. Những đặc điểm này có thể
chứng minh rằng các “gia tộc” tế bào là một tập hợp
rất nhiều các tế bào có hình dạng, chức năng tương tự,
được liên kết lại bởi một chất cách tế bào chất. Sinh
vật học gọi chúng là mô. Bốn “gia tộc” tế bào trong
cơ thể người chính là bốn mô lớn: mô biểu bì, mô liên
kết, mô cơ và mô thần kinh.
“Gia tộc” lớn thứ nhất là mô biểu bì. Mô biểu bì bao
phủ toàn bộ mặt ngoài cơ thể và mặt trong các ống
và khoang trong cơ thể người. Các tế bào sắp xếp khít
chặt với nhau, chất tế bào rất ít. Đây là một gia tộc
tế bào lớn chức năng đoàn kết chống lại vi trùng xâm
nhập hay các vật bên ngoài gây tổn hại đến tế bào.
Mô biểu bì
14
“Gia tộc” thứ 2 là mô liên kết. Mô liên kết bao gồm
nhiều loại được phân bố rộng rãi trên cơ thể người. Ví
dụ như các tổ chức xương, tổ chức tuyến bã nhờn dưới
da, bắp thịt gồm gân và mạch máu v.v... đều thuộc mô
liên kết. Đặc điểm nổi bật của nó là sự phát triển của
chất cách tế bào. Đây là một “gia tộc” tế bào đa chức
năng như: duy trì, liên kết, bảo vệ và nuôi dưỡng...
Mô liên kết
“Gia tộc” thứ 3 là mô cơ. Đặc điểm của mô này là
mỗi tế bào đều có khả năng co duỗi gây sự vận động.
Người ta căn cứ vào độ co duỗi, hình dạng và sự phân
bố các tế bào để phân chúng thành ba loại: tế bào cơ
trơn, tế bào cơ xương và tế bào cơ tim.
Mô cơ
“Gia tộc” thứ 4 là mô thần kinh. Thành viên chủ yếu
của mô này là các tế bào thần kinh (hay còn gọi là
15
nơron thần kinh). Đặc điểm của các nơron thần kinh là
thu nhận kích thích, gây ra hưng phấn và dẫn truyền
hưng phấn. Đây là một “gia tộc” tế bào nhạy cảm, có
khả năng thông tin rất cừ khôi.
1. Thể tế bào
2. Nhân tế bào
3. Tua ngắn
4. Tua dài
5. Bao tủy
6. Đầu mút tua dài
Nơron thần kinh
5
Ai là người phát hiện ra tế bào?
Trong sự phát hiện ra tế bào phải kể đến việc chế
tạo ra kính hiển vi và sự tiến bộ của kỹ thuật nghiên
cứu khoa học. Người đầu tiên phát hiện ra tế bào không
phải là một nhà sinh vật học mà là nhà vật lý học
người Anh - ông Robert Hooke. Năm 1665, với chiếc
kính hiển vi tự chế tạo, ông đã quan sát và phát hiện
ở một cây non đã bị cắt ra thành những lát mỏng rất
nhiều những ngăn nhỏ hình tổ ong nằm sát nhau. Ông
gọi những ngăn nhỏ này là tế bào. Phát hiện của ông
đã tạo nên bước nhảy vọt mở ra một giai đoạn mới cho
những hiểu biết của con người đối với sinh vật. Vào cuối
16
thập niên 30 của thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã chỉ
ra rằng tất cả mọi động vật và thực vật đều do tế bào
cấu thành, vì thế tế bào chính là đơn vị cơ bản của sự
sống. Từ lúc tế bào được phát hiện ra đến học thuyết
tế bào tất cả là 174 năm nhưng việc nghiên cứu tế bào
mới chỉ nằm trong giai đoạn khởi đầu. Mấy chục năm
gần đây, sự phát triển của kính hiển vi khiến người ta
không khỏi ngạc nhiên. Ngày nay kính điện tử có độ
phóng đại từ 800.000 đến mấy triệu lần đã tiến thêm
một bước mở rộng tầm nhìn con người, tạo điều kiện
cho chúng ta ngao du vào thế giới vi mô.
Còn có một người Hà Lan tên là Leeuwenhoek. Cũng
với chiếc kính hiển vi tự tạo của mình, ông đã phát hiện
ra những sinh vật nhỏ bé mà mắt thường không thể
nhìn thấy được. Leeuwenhoek không phải là nhà vật
lý học cũng chẳng phải là nhà sinh vật học. Thuở nhỏ
Kính hiển vi của Robert Hooke và những lát mỏng cây non
được quan sát dưới kính hiển vi
17
gia đình nghèo khổ, 16 tuổi ông phải đến học nghề ở
một cửa tiệm thảm trải nền. Trong thời gian học nghề,
ông đã học được cách sử dụng và chế tạo những chiếc
kính phóng đại. Sau khi mãn hạn học nghề, 22 tuổi,
ông trở về quê hương, làm một chân thư ký trong tòa
thị chính, cuối cùng ông đã mài được hai thấu kính lý
tưởng. Đem hai thấu kính này gắn cố định trên một cái
gọng kim loại, rồi lại lắp thêm một cái cán điều chỉnh
hình xoắn ốc, ông đã chế tạo ra một chiếc kính hiển
vi rất đơn giản có độ phóng đại gần 300 lần. Với chiếc
kính hiển vi rất đơn giản đó, Leeuwenhoek đã nhìn
thấy rất nhiều sinh vật mà vào thời đó khiến người ta
kinh ngạc. Năm 1669, ông đã viết một bản báo cáo gởi
đến Hội khoa học Hoàng gia Anh. Bản báo cáo trình
bày việc ông đã dùng một chậu hoa mới đựng nước
mưa, sau bốn ngày ông phát hiện trong nước có vô
số động vật nguyên sinh, nếu thêm vào nước đó một
Leeuwenhoek đang quan sát kính hiển vi
18
Kính hiển vi đơn giản do Leeuwenhoek chế tạo
giọt rau nghiền, có thể còn nhìn thấy nhiều loại động
vật nguyên sinh hơn nữa. Tiếp đó ông còn phát hiện
ra vi trùng, tế bào máu người v.v... Ông đã tiến hành
một thí nghiệm rất đơn giản. Quan sát một mẩu bựa
răng lấy ra từ khoang miệng của một ông lão không
đánh răng, ông đã phát hiện ra hàng loạt vi sinh vật
hình dạng không hề giống nhau.
Việc Leeuwenhoek phát hiện ra thế giới vi sinh vật,
không những có tác động to lớn đến sự phát triển y
học mà còn khiến người ta tin chắc rằng trong phạm
vi khả năng mắt thường không thấy được tồn tại vô
số vi sinh vật.
19
Chương 2
CHIẾC ÁO KHOÁC
NHIỀU CÔNG DỤNG
Nói đến chiếc áo khoác, chúng ta nghĩ ngay đến
chiếc áo lông ấm áp mặc mùa đông hay chiếc áo khoác
nhẹ mùa hè. Nhưng mà chẳng có cái nào trong số
chúng bì kịp với bộ da - “chiếc áo khoác ngoài” - của
cơ thể. Da bao bọc mặt ngoài của cơ thể, ngoài chức
năng bảo vệ mà mọi người đều biết ra, da còn có các
chức năng khác như bài tiết, điều hòa nhiệt độ cơ thể
và cảm nhận những kích thích từ bên ngoài như nóng,
lạnh, sự đụng chạm và cảm giác đau đớn. Chính vì
“siêu” như vậy nên da là bộ áo khoác lý tưởng nhiều
công dụng của cơ thể con người.
6
Phòng tuyến “da” được cấu tạo như
thế nào?
Việc bộ da có thể thi hành nhiều chức năng có liên
quan mật thiết đến cấu tạo của chúng.
Cấu tạo của da: lớp ngoài cùng của da do nhiều lớp
20
tế bào tạo thành gọi là biểu bì. Những lớp tế bào ngoài
cùng của biểu bì bị sừng hóa, chúng liên kết chặt chẽ
với nhau và có tính đàn hồi. Chúng giống như một hàng
rào che chắn, có thể ngăn chặn vi trùng xâm nhập vào
cơ thể con người, ngoài tác dụng ngăn ngừa và bảo vệ,
chúng còn có thể phòng chặn sự thoát hơi nước từ cơ thể.
Dưới lớp biểu bì là chân bì tức da trong, so với lớp
biểu bì thì nó dày hơn nhiều. Lớp chân bì do mô liên
kết cấu tạo thành, trong có vô số các sợi dây dẻo
và sợi đàn hồi, khiến lớp chân bì này giống như một
tấm nệm cao su dày có tính dẻo dai, có thể chống lại
được các tổn thương có tính phá vỡ và chịu đựng được
những tác động nhất định của ngoại cảnh. Ở lớp chân
bì này còn có mạng lưới thông tin cao cấp để truyền
đạt những thông tin từ bên ngoài vào bên trong cơ thể
và những mạch máu nhằm vận chuyển khí oxy và chất
dinh dưỡng đến cho tế bào. Ngoài ra nó còn có tuyến
bã nhờn để tiết chất nhờn, tuyến mồ hôi để tiết ra mồ
hôi và những chân lông.
Cấu trúc của da
1. Biểu bì
2. Chân bì (da trong)
3. Tổ chức dưới da
4. Mạch máu
5. Tuyến bã nhờn
6. Đầu mút dây thần kinh
7. Cơ quan cảm thụ
8. Lớp mỡ dưới da
9. Tuyến mồ hôi
21
7
Tại sao da được coi là chiếc ô
che nắng?
Những người làm việc ngoài
trời mùa hè làn da thường bị
sạm nắng. Có người sợ đen
da đã thoa lên mình kem
chống nắng. Thật ra, chính
làn da đen bóng của những
người làm việc ngoài trời đã
tạo nên một lớp bảo vệ cho cơ
thể. Giống như chiếc ô che nắng
cho cơ thể con người, nó hấp thụ
những tia tử ngoại có thể xuyên qua
da và giết chết những tế bào
đồng thời ngăn chặn sự tổn
thương do tia này gây ra đối
với những tế bào trong cơ thể.
Chiếc “ô che nắng” này đã được giương lên như
thế nào? Nguyên do là trong lớp tế bào tận cùng của
biểu bì có một số ít những tế bào sắc tố. Thường màu
sắc đậm nhạt của da chúng ta được quyết định bởi số
lượng của những tế bào hắc tố này. Vậy là chiếc ô che
nắng được giương lên do bởi chính làn da bên ngoài
dần dần chuyển thành màu đen bóng.
22
8
Những trạm ra đa bé nhỏ của da
có chức năng gì?
Bên trong lớp chân bì còn có rất
nhiều thể nhỏ có cấu tạo riêng
đặc biệt, nằm ở bên trong, bí
mật tiếp nhận những thông
tin ở bên ngoài cơ thể như
nóng lạnh, sự va chạm, đau
đớn v.v... Bất kể là dao cứa
hay bị côn trùng cắn, những thông
tin này nhờ vào những “liên lạc” là tế
bào thần kinh đều được truyền đến “bộ tổng
tư lệnh” - đại não - một cách chính xác. Đại não lại
phát ra những mệnh lệnh để xử lý thông tin. Những thể
nhỏ “mai phục” trong lớp chân bì này có chức năng
như một trạm ra đa được thiết lập trên mạng lưới quốc
phòng. Những trạm ra đa này trong sinh vật học gọi là
những cơ quan cảm thụ. Trong lớp chân bì, hầu như
chỗ nào cũng có những cơ quan cảm thụ. Có người
thống kê rằng, trong tổng diện tích da 1,75 m2 có đến
2.400.000 cơ quan này. Có thể dựa vào cấu tạo và
chức năng khác nhau để phân chúng ra làm bốn loại:
cơ quan cảm thụ xúc giác, cơ quan cảm thụ lạnh, cơ
quan cảm thụ nóng và cơ quan cảm thụ sự đau đớn.
Số lượng đông đảo những cơ quan cảm thụ này lại
không phân bố đồng đều trong da mà tập trung theo
23
vùng, hơn nữa mật độ phân bổ cũng không giống nhau.
Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau của
những vùng da khác nhau trên cơ thể. Ví dụ như độ
nhạy cảm ở đầu ngón tay cao hơn nhiều so với độ
nhạy cảm ở lưng. Xét cho cùng thì các cơ quan cảm
thụ có những đặc điểm gì?
Cơ quan cảm thụ xúc giác: chúng ta gọi chúng là
những trạm ra đa xúc giác nhé! Chúng chuyên tiếp thu
những kích thích cơ giới như sự đụng chạm và chèn
ép, thông qua hàng loạt hệ thống thần kinh truyền về
đại não, gây nên xúc giác. Thông qua xúc giác, người
ta có thể nhận biết được những đặc tính vật lý của sự
vật như hình dạng, kích thước, độ cứng, độ nhẵn bóng
hay thô ráp v.v... Đối với những người mù, xúc giác
càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Cơ quan cảm thụ dưới da
24
Cơ quan cảm thụ nóng, lạnh là những trạm ra đa
nhận biết được sự thay đổi về nhiệt lượng dưới da. Cơ
quan cảm thụ lạnh chuyên thu nhận những thay đổi
về việc mất đi nhiệt lượng trong một khoảng thời gian
ngắn. Ngược lại, cơ quan cảm thụ nóng nhận biết những
thay đổi về việc thu nhận nhiệt lượng trong thời gian
ngắn. Bạn có những cảm nhận như vậy trong cuộc
sống hằng ngày không? Để tay chạm vào một miếng
sắt và một miếng gỗ cùng ở nhiệt độ khoảng 100C,
bạn sẽ cảm thấy miếng sắt lạnh hơn miếng gỗ nhiều.
Đó là vì miếng sắt truyền nhiệt nhanh hơn miếng gỗ,
trong thời gian ngắn nó có thể lấy đi rất nhanh nhiệt
lượng từ da của bạn. Cho nên bạn sẽ cảm thấy miếng
sắt lạnh hơn miếng gỗ mặc dù chúng ở cùng nhiệt độ.
Cơ quan cảm thụ đau đớn là những trạm ra đa
chuyên thu nhận những tổn thương dưới da như điện,
cơ giới, quá lạnh hay quá nóng, những vật chất hóa
học v.v... đều có thể dẫn đến đau đớn. Cảm giác đau
có tác dụng bảo vệ đối với người, nó có thể thúc đẩy
gây ra những kích thích có tính tránh đỡ những tổn
thương từ cơ thể con người.
Số lượng nhiều những trạm ra đa bé nhỏ - những
cơ quan cảm thụ dưới da - đã truyền đạt chuẩn xác,
nhanh chóng những thông tin cảm giác đa dạng về não,
từ đó đại não mới có thể điều kiển chính xác những
sinh hoạt bình thường của cơ thể người.
25
9
Tại sao người ta gọi da là bộ máy
điều hòa nhiệt độ cao cấp?
Nhiệt độ trung bình của cơ thể con người là một
trong những điều kiện quan trọng nhằm duy trì một
quá trình sinh lý bình thường. Nhiệt độ trung bình của
cơ thể con người luôn giữ ở khoảng 370C. Nếu nhiệt
độ tăng quá 410C hay xuống đến 250C thì sinh mạng
con người sẽ bị đe dọa.
Nhiệt độ của cơ thể con người có thể giữ ở mức tương
đối ổn định chính là nhờ sự điều tiết của hệ thần kinh
thông qua các mạch máu và tuyến mồ hôi. Cơ thể con
người trong môi trường nhiệt độ thấp, phần lớn những
mạch máu dưới da đều bị co lại, những mạch máu nhỏ
thu hẹp khiến lưu lượng máu giảm, nhiệt lượng do máu
đem đến cũng giảm. Lúc này nhiệt độ của da thấp làm
cho nhiệt lượng do da trực tiếp tỏa ra cũng giảm. Mặt
khác, do tuyến mồ hôi hoạt động yếu trong môi trường
nhiệt độ thấp, thậm chí không tiết ra mồ hôi cũng ngăn
ngừa sự tiêu hao nhiệt lượng của cơ thể con người
thông qua sự bốc hơi mồ hôi. Điều này cũng khiến
cho cơ thể con người có thể giữ được nhiệt độ trung
bình trong môi trường nhiệt độ bên ngoài xuống thấp.
Cơ thể con người trong môi trường nhiệt độ cao thì
phần lớn các mạch máu dưới da giãn rộng, những mạch
máu nhỏ nở ra làm tăng lưu lượng máu, nhiệt lượng do
cơ thể sản sinh ra được máu đem đến da, khiến nhiệt
26
độ của da tăng lên, nhiệt lượng da tỏa ra cũng tăng
theo. Đồng thời sự gia tăng hoạt động của tuyến mồ
hôi làm cho mồ hôi được tiết ra nhiều hơn, sự bốc hơi
nước từ da làm tiêu hao phần lớn nhiệt lượng của cơ
thể. Chính vì thế mặc dù con người ở trong môi trường
nhiệt độ cao, cơ thể vẫn giữ được nhiệt độ ở mức bình
thường không bị tăng lên.
10
Làm thế nào để bảo vệ “chiếc áo
khoác” của chúng ta?
Bộ da là chiếc áo khoác ngoài nhiều công dụng của
cơ thể con người, nó bao phủ toàn bộ cơ thể của chúng
ta với một diện tích khá lớn khoảng 1,6 m2. Do bộ da
không chỉ có thể đề phòng sự tấn công xâm nhập của
những vi trùng bên ngoài mà còn có tác dụng cảm giác
và điều hòa nhiệt độ cho cơ thể, vì thế, chúng ta cần
chú ý bảo vệ nó.
Làm thế nào để bảo vệ làn da của bạn? Nói chung
ta phải chú ý đến ba nguyên tắc:
1. Giữ vệ sinh da.
2. Tiến hành rèn luyện cho da.
3. Phòng ngừa những tổn thương cho da.
Muốn giữ gìn vệ sinh cho da phải thường xuyên tắm
rửa kỳ cọ thân thể. Tắm rửa có thể loại đi những bụi
bặm, đất bẩn, những vi sinh vật và cả những tế bào da
27
đã chết (vảy da) bám trên bề mặt của da và lỗ chân
lông. Theo một thống kê cho biết mỗi một lần tắm
rửa, người ta có thể làm sạch da và loại đi từ 20 triệu
đến 1 tỷ con vi trùng các loại. Sau khi tắm rửa, tuy là
trên da vẫn còn những con vi trùng, nhưng vì một số
lượng lớn vi trùng đã bị loại bỏ nên làm chậm tốc độ
sinh sản của chúng. Năng tắm rửa và kỳ cọ thân thể
còn có tác dụng xoa bóp làm ấm da.
Chịu khó thay quần áo cũng là một biện pháp quan
trọng trong việc giữ gìn vệ sinh cho da. Quần áo vốn
có tác dụng bảo vệ thân thể, song nếu trong một thời
gian dài không được thay, trên quần áo sẽ tích tụ nhiều
vết dơ có thể gây ra kích thích và nhiễm trùng da.
Tiến hành rèn luyện cho da chủ yếu có ba cách:
tắm nước lạnh, tắm không khí và tắm nắng. Ba kỹ thuật
tắm cho da ở trên vừa không mấy tốn kém, tiện lợi lại
phổ biến, chỉ cần kiên trì là có thể rèn luyện cho da.
Tắm nước lạnh hay việc dùng nước lạnh để kỳ cọ
thân thể không những có thể tăng cường sức đề kháng
của cơ thể đối với giá lạnh, phòng ngừa trúng gió, cảm
lạnh mà còn có thể khiến cho người ta cảm thấy phấn
chấn và ăn ngon miệng. Việc tắm nước lạnh nên thực
hiện tăng dần, nên bắt đầu vào mùa hè, kiên nhẫn
thực hiện, thời gian tốt nhất là vào sáng sớm và buổi
tối mỗi ngày. Nếu có điều kiện thuận lợi có thể tắm
thay đổi, xối nước lạnh với nước ấm để rèn luyện tính
co giãn của những mạch máu dưới da, tăng cường
28
tính thích ứng của da đối với những thay đổi nhiệt độ
không khí bên ngoài.
Tắm không khí có nghĩa là phơi da ra ngoài không
khí. Do không khí cũng có kích thích da nên việc tắm
không khí, nhất là vào mùa đông có thể tăng cường
tính thích ứng và sức đề kháng của da.
Tắm nắng tức là phơi trần da ra ngoài nắng. Thực
hiện việc tắm nắng có tác dụng tổng hợp tia tử ngoại
và những tia khác trong ánh nắng mặt trời, làm gia
tăng sự tuần hoàn máu, cung cấp đầy đủ máu cho
da. Do đó sự gia tăng lượng máu cung cấp cho da có
thể thúc đẩy việc thực hiện những hoạt động sinh lý
bình thường trong cơ thể con người, làm tăng cường
sức đề kháng. Ngoài ra, tia tử ngoại không chỉ có thể
giết chết những vi trùng bám trên da, mà còn có thể
biến đổi một chất là ergosterol (tiền sinh tố D) trong
da thành sinh tố D. Sinh tố D có tác dụng thúc đẩy
cơ thể con người hấp thu và sử dụng các chất calci,
phốt pho, phòng bệnh còi xương.
Để tránh làm tổn thương da, hằng ngày chúng ta
không nên trực tiếp tiếp xúc với những chất kích thích
như chất xút tương đối mạnh, chất kiềm và những chất
dược phẩm có tính bào mòn..., tránh bị phỏng, bị cóng,
bị trầy xước da, tránh tiếp xúc với những người có bệnh
da liễu dễ lây bệnh, chăm rửa tay, thường xuyên cắt
móng tay, tránh thói quen cào gãi da.
29
Chương 3
CÁI GIÁ ĐỠ DIỆU KỲ
Các tòa nhà chọc trời đều được chống đỡ bởi cốt
thép mới có thể đứng vững vàng trên mặt đất, hiên
ngang vươn cao đến vậy. Vì thế, tiếng tăm về độ vững
chắc của bê tông cốt thép đã vượt xa khỏi phạm vi
của nó. Thế nhưng thế giới của chúng ta vẫn còn một
loại giá đỡ không cần đến cốt thép, không cần xi măng
mà vẫn bền vững đến thần kỳ, đó chính là bộ xương
của cơ thể con người. Tuy bộ xương chỉ gánh vác một
cơ thể nhưng cấu tạo phức tạp và khả năng chống đỡ
của nó thì cốt thép cũng phải kiêng nể, không thể sánh
kịp. Cốt thép chẳng qua là những cây thép hình trụ trụi
nhẵn, còn bộ xương thì do 206 miếng với hình dạng,
kích thước khác nhau “bắt” vào nhau một cách phức
tạp để cấu tạo thành một kết cấu hoàn chỉnh.
Căn cứ vào vị trí của các bộ phận trên cơ thể, xương
chia làm xương đầu, xương mình và xương tứ chi. Xương
đầu do 29 miếng xương kết thành giá đỡ hình cầu, bảo
vệ bộ não ở bên trong. Xương mình tổng cộng có 51
miếng, trong đó 26 đốt xương sống, 12 đôi xương sườn
và một miếng xương ngực tạo thành cột xương sống.
30
2. Xương cằm
3. Xương khóa
4. Xương bả vai
5. Xương ngực
6. Xương sườn
7. Xương cánh tay 8. Xương
sống
9. Xương trụ
10. Xương cánh tay
11. Xương chậu
12. Xương cổ tay
13. Xương bàn tay 1 4 .
Xương ngón tay
1 5 .
Xương đùi
16. Xương bánh chè 1 7 .
Xương chày
18. Xương ống quyển
19. Xương cổ chân 2 0 .
Xương bàn chân
2 1 .
Xương ngón chân
Bộ xương của con người (mặt trước)
1. Xương trán
31
Các bộ phận cột sống, xương sườn, xương lồng ngực
vây thành một cái lồng xương gọi là xương lồng ngực.
Lồng ngực bảo vệ tim, phổi và các cơ quan quan trọng
bên trong nó. Xương tứ chi do 126 khúc xương tạo
thành. Xương chậu của chi dưới và phần dưới của cột
sống cuộn lại thành kết cấu hình chậu. Trong xương
chậu chứa nhiều bộ phận nội tạng. Phần vai của xương
chi trên có thể chuyển động một góc 3600. Xương chi
dưới có thể di chuyển, quỳ gối và nhảy nhót, gánh vác
trọng lượng của toàn thân.
Bộ xương của con người được cấu tạo mang tính
phức tạp, khoa học, đa công năng, đây là một kết cấu
mà các nhà kiến trúc sư khó mà thiết kế được. Chính
vì kết cấu của xương phức tạp, có chức năng gánh
vác đáng nể đó mà các nhà khoa học đã phân tích và
thấy rằng trọng lượng xương của người trưởng thành
chỉ chiếm 1/5 trọng lượng cơ thể, ấy vậy mà nó có thể
nâng đỡ trọng lượng gấp trăm lần, ngàn lần. Xét trên
phương diện kết cấu và chức năng, bộ xương người
xứng đáng là một loại giá đỡ thần kỳ của thiên nhiên.
11
Xương cứng chắc như thế nào?
Trong thế giới tự nhiên, đá kim cương là cứng nhất,
bền nhất chắc nhất. Nhưng qua khảo sát của các nhà
khoa học, họ phát hiện ra rằng, trên mỗi cm2 diện tích
của miếng xương có thể chịu được áp lực 2100 kg, mỗi
32
cm2 đá kim cương chịu được áp lực 1350 kg, mỗi cm2
gỗ chịu áp lực 454 kg, kết quả là xương giành được
chức vô địch về bền dai, đá kim cương chiếm vị trí á
quân, đứng hàng thứ ba là gỗ.
Thành phần của xương
1. Màng xương
2, 3, 4. Ống tủy
5. Tủy
6. Huyết quản
Tại sao xương lại cứng hơn đá kim cương được?
Điều kỳ diệu là ở chỗ kết cấu của xương. Quan sát
kết cấu của một khúc xương dài, nó do màng xương,
chất xương và ...
 





